Thứ Tư, 24 tháng 10, 2007

TRƯƠNG THỊ KIM CHI

TRƯƠNG THỊ KIM CHI

CUỐN PHIM TRONG TIM MÁ

( Mừng sinh nhật Thỏ Hiền)


Con yêu của má!

Năm nào cũng vậy, cứ sắp tới sinh nhật con, má lại mở cuốn phim Thỏ Hiền ra xem. Những thước phim được quay thật chậm… thật rõ nét… tràn ngập ánh sáng trong trẻo và cảm xúc sâu lắng dịu dàng… Phim được quay bằng tất cả niềm yêu thương bao la trong tim má!

Cuộn phim khởi đầu bằng ngày con đang quẫy đạp trong bụng má, bỗng im re khi má hát: “ Đố ai biết lúa… ư… lúa mấy cây. Biết sông… biết sông mấy khúc…ư…ơi…, biết mây… biết mây mấy từng…” Sau giây phút kinh ngạc, má thích thú nhắm mắt lại, đặt đôi bàn tay lên bụng, hình dung con đang khoanh tròn bên trong, tiếp tục truyền từng lời vào tim con: “ Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi…”Rõ ràng là má cảm nhận được tim con xao động! Má đoán con là gái và sung sướng tin rằng con sẽ là cô gái nhạy cảm, thông minh, ngoan ngoãn, dịu hiền…

Sáng 20/10, khoảng 9 giờ, má nghe đau quằn quặn. Ba đi mua thuốc đau bụng. Má uống, không bớt mà càng lúc càng đau hơn. Ba chở má tới trạm xá. Má quằn quại uốn gập trên ghế chờ, thấy đủ mười ông trời!!!

Rồi khoảng 5 giờ chiều, trời vừa nhạt nắng, con gái đầu lòng của ba má chào đời. Sau cơn vượt cạn kinh hoàng, má bỗng nhẹ nhõm và hạnh phúc diệu kì khi nhìn ngắm con được quấn tròn trong cái tả! Đôi mắt con mở to, tròn vo, đen nhánh, ngơ ngác nhìn . Cô đỡ ngạc nhiên : “ Nhỏ nầy ngộ quá hen! Mới lọt lòng mà đã biết dòm!” Ngộ hơn nữa là đầu con dài thoòng coi giống trái bí đao nhỏ!

Thế nên mỗi lần tắm cho con, ba nựng nịu , xoa xoa đỉnh đầu của con :“ Tròn lại đi con, kẻo xấu gái đó!”. May quá, cái đầu của con tròn dần, nổi bật vầng trán vuông rộng sáng láng! Phần má, má nâng niu chăm chút con từ mái tóc đến gót chân. Lúc còn trong tháng, má ngồi bên lò than nóng, hơ từng lá trầu cho ấm mềm rồi háp khắp nơi của thân thể con. Má muốn con đẹp, đẹp ngay ở chỗ kín đáo nhất, Thỏ Hiền à! Và má đã hát ru con bằng những bài ca ngọt ngào nhất, với niềm ước mong con sẽ là một cô gái toàn bích cả hình thức, trí tuệ lẫn tâm hồn.

Ngày con đầy tháng, sau khi cho con bú no nê, má đặt con vào chiếc nôi tre. Đôi mi con khép hờ, miệng chúm chím cười. Thỉnh thoảng con lại chu môi mút chùn chụt ngon lành. Má hát ru : “ Suối mơ! Bên rừng thu vắng, giòng nước trôi lững ờ ngoài nắng…” Chưa hết bài, con đã ngủ ngoan. Nhưng má vẫn tiếp tục đung đưa nhè nhẹ vành nôi và hát trọn bài cho giấc mơ con tròn đẹp thêm.

Có lần con sốt, tướt, khóc ngằn ngặt, ba má thay nhau bồng con trên vai đi suốt đêm. Mấy ngày sau, người mát, con toét miệng cười khoe chiếc răng đầu tiên vừa mới nhú lên, trắng muốt, má ngắm miết không chán… Rồi con tập nói, tiếng kêu đầu đời : ba ba, ma ma… nghe hay lạ lùng…

Con dần lớn lên… Da hồng, tóc đen, môi đỏ. Bao lần má đã mỏi mệt, kiệt sức bởi gánh nặng cuộc đời, tưởng chừng sắp quỵ ngã nhưng chỉ cần ôm con vào lòng, hôn con, nhìn con cười là lòng má lại thanh thản, hiểu rằng có thể vượt qua tất cả!

Ngày thôi nôi của con, trước mặt con, cái khay nào bút, vở, dây chuyền, bánh kẹo, … Con chồm ra trước, lấy cây bút chì vẽ ngoằn ngoèo lên cuốn tập . Y như rằng! Ngay từ nhỏ con đã chăm chỉ, học giỏi. Và điều má hạnh phúc nhất là con rất mẫn cảm, biết khát khao những gì thanh khiết, cao quý, luôn có ý thức vươn lên để hoàn thiện bản thân.

Con yêu! Cuốn phim Thỏ Hiền nầy mãi mãi được nâng niu cất giữ cẩn thận trong tim má. Vì vậy tuy con phải xa nhà đi học nhưng má vẫn cảm thấy như luôn có con bên cạnh. Lòng má ấm áp lắm con à!

Chúc con yêu sinh nhật tràn đầy niềm vui!

Hôn con +++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++ ...

T.T.K.C

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2007

TRẦN THỊ CỔ TÍCH

TRẦN THỊ CỔ TÍCH













về chốn cũ

Chốn xưa ơi!

Hơn ba mươi năm tìm lại

Những khóm dừa xao xác gọi mưa ngâu

Gọi gió mùa xưa dội về lay dòng sông cổ tích

Và lòng ta tơi bời tung lớp bụi thời gian

Ta ngỡ gặp m

Đứng chông chênh giữa con đò nhỏ

Mắt long lanh sóng nước

Ao thẩn thơ bay thao thức trời chiều

Những áng mây m diệu kỳ

Cứ trôi dần trôi dần

Về dĩ vãng mù xa

Ngoảnh mặt lại

Dáng mong manh ai ngồi trên phiến đá

Nghe gió chiều qua day dứt một nỗi niềm

Vườn ổi xưa

Bạn bè gái trai ngồi xum xít

Nắng rải hoa vàng vương áo trắng lay lay

Ngày hôm ấy có một người xao xuyến

Gói trong sóng lòng lớp lớp chuông ngân

Để xa rồi mới biết mình lưu luyến

Một nét cười ẩn hiện giữa trang thơ

Mơ về đâu? Mơ về đâu?

Mây trời biền biệt!

Màu lá phai rồi

Đường mờ rêu phủ

Ai đó từng ủ trong tim một tấm tình

Rất thật

Nay trở lại nơi này

Thả gió tình bay...

7/2004

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2007

Trương thị KimChi

HỌA MI HÓT GIỮA KHUYA

Trương thị KimChi

Hân vừa nấu ăn vừa hát. Mẹ từng nói, lẽ ra phải có con giáp thứ mười ba mang tên loài chim hay hót để xếp Hân vào tuổi đó. Bởi có Hân ở đâu, có tiếng hát ở đó. Tiếng hát vui vẻ hồn nhiên, tươi trẻ yêu đời. Chính chất giọng nầy đã dẫn Nguyên đến với cô.

Cũng ngày nầy cách đây bốn năm, Nguyên gọi điêïn thoại đến nhà cô: “Alô, xin hỏi công ty X phải không ạ, làm ơn cho tôi gặp cô Ngọc Hân.” Ngọc Hân đúng là cô, nhưng cái công ty X kia thì không phải. Một chút nghịch ngợm cộng với thoáng tò mò trong khi rảnh rang. “ Vâng, tôi là Ngọc Hân đây…” Dĩ nhiên nói chuyện mấy câu, chàng trai bên kia đầu dây biết mình bị nhầm số và đang bị đùa, xin lỗi rồi cúp máy. Hân bóc tờ lịch trong ngày, xếp thành chiếc thuyền nhỏ xíu, đặt vào tủ kính. Một thói quen khi có chuyện thú vị.

Khoảng một tuần sau, điện thoại reo, mẹ Hân bắt máy. Từ trong bếp, Hân nghe rõ mồn một: “ Anh là ai? Ở đâu? Làm gì? Sao anh quen con Hân nhà tôi? Chắc anh biết nó đang chuẩn bị thi ra trường ? Biết sao anh còn gọi nó? Gặp một chút để làm gì? Có chuyện quan trọng đến mức đó sao? À, con Hân không có ở nhà. Chào anh!”

Hân không biết ai gọi mình, nhưng chắc chắn đó không phải là mấy đứa bạn thân thiết. Tính mẹ rất cẩn thận, gặp người lạ mẹ đề phòng tối đa. Hân chỉ thấy mắc cười và tội nghiệp cho người nào đó, bị chất vấn đã đời để cuối cùng: “ con Hân không có nhà!”

Mẹ vắng nhà. Cũng khoảng năm giờ chiều, chuông điện thoại đổ dài, Hân nhận ra ngay giọng anh chàng nhầm số bị Hân đùa hôm nọ. Cuộc điện đàm có lẽ không dừng được nếu mẹ Hân không về. Người đâu mà nói chuyện thông minh dí dỏm đến mê! Kẻ bên kia say sưa giọng nói reo vui, tiếng cười trong vắt giòn tan của cô gái! Rồi họ gặp nhau. Yêu nhau và lấy nhau. Chiếc thuyền giấy nhỏ xíu kia ai ngờ là thuyền tình. Tối nay, Hân lại sẽ đem nó ra đặt trên bình hoa hồng .

Hân nếm món gỏi, gật gù vừa ý, tự khen mình thành lời: “ Chà, nhỏ Hân giỏi quá ta! Bóp gỏi lành nghề quá ta!”. Xong một món. Tiếp theo là chiên khoai tây để ăn với bò né. Hân tung hứng những miếng khoai tây trước khi cho vào chảo. Cô có vẻ khoái chí khi nhận ra mình chẳng thua kém gì Martin Yan. Tối nay, lúc chồng đang thưởng thức những món ăn đặc biệt nầy, Hân sẽ hỏi chơi: “ Anh ơi, ai nấu ăn ngon quá vậy cà?” Dĩ nhiên anh ấy sẽ cười: “Họa Mi của tui chứ còn ai vào đây!”. Cô hình dung, anh sẽ bỏ đũa xuống, ôm cô vào lòng. Cô sẽ rúc đầu vào ngực anh, vùng ngực rộng lớn, vạm vỡ rắn chắc, thơm mùi da thịt A-đam khoẻ mạnh. Bữa tiệc chỉ có hai người sẽ diễn ra thật độc đáo: Ăn uống và tâm tình. Nghĩ tới đó, vui sướng quá Hân hát: “ Mùa xuân đến đạp xe trên phố, tóc xỏa vai mềm. Mùa xuân hát nụ hoa thơm ngát nở trên môi hồng… Em ơi nghe chăng mùa xuân, mùa xuân hát ở trong lòng…”. Hân nhún nhảy theo điệu hát và tay cô cũng nhịp nhàng gắp những miếng khoai tây ra đĩa. Nhìn cô lúc nầy, người ta có thể nghĩ rằng cô là hiện thân của hạnh phúc cả thế gian.

Năm giờ rưỡi! Anh sắp về ! Hân nhanh nhẹn dọn dẹp gọn gàng mọi thứ trong bếp. Bây giờ đến việc sửa soạn bản thân. Hân mở vòi sen hết cỡ, thích thật đấy. Cô thoa lotion khắp người, xịt một tí nước hoa cùng hương thơm với mùi lotion vừa dùng, rồi chọn chiếc váy dạ hội màu xanh ngọc bích. Đứng trước gương, Hân khoan khoái thưởng thức cảm giác sạch sẽ thơm mát nhẹ nhàng. Quá đỗi hài lòng với bản thân mình, cô lại hát vang . Nếu bây giờ có Nguyên bên cạnh, chắc chắn anh sẽ bế cô lên, chạy khắp nhà, miệng la to: “Họa Mi yêu quý của anh!”.

Họa Mi! Họa Mi! Hân mỉm cười. Đó là một buổi sớm mùa xuân khi họ dạo chơi trên con đường xanh mát cỏ cây. Cảnh đẹp như vậy làm sao Hân cầm lòng được, cô hát nho nhỏ: Từng chồi non xanh mơn man. Từng giọt mưa long lanh rơi .Mùa xuân …” Nguyên đi bên cô, lắng nghe. Rồi như bị mê hoặc, anh cứ đòi Hân hát. Hân thích thú hát mãi, hát mãi… Nguyên buột miệng: “Họa Mi!”.

Sáu giờ, trời mùa đông sập tối nhanh. Sao anh chưa về? Có thể anh còn chút việc gì đó. Giám đốc một doanh nghiệp tư nhân chuyên bán vật liệu xây dựng vừa mới thành lập, anh bận lắm. Thương anh biết bao, trời mưa lất phất thế nầy, anh đang đi xe ngoài đường hẳn lạnh tê. Hân biết anh đang lái xe nhanh về nhà, nơi chốn ăm ắp yêu thương, ấm áp bình yên. Hân bắt đầu dọn bàn. Một bữa tiệc đặc biệt nên tất cả đều phải đặc biệt. Cô chưng bình hoa hồng giữa chiếc bàn ăn được phủ khăn trắng tinh, rồi bày chén, đũa, ly… Cô cho mấy lon bia vào ngăn đá. Nguyên rất thích uống những lon bia vừa đông nhẹ, sền sệt, sóng sánh vàng. Còn thức ăn, khi anh về, cô sẽ cho vào microwave hâm nóng lại và lúc anh đang tắm, cô mới bưng ra. Hân đi tới đi lui ngắm nghía. Những đóa hồng nhung rực rỡ, phảng phất hương vị tình yêu đang nhoẻn cười với cô. Chiếc thuyền tình bình yên nằm gọn giữa một đóa hồng chúm chím nở. Lòng Họa Mi xao động: “ Chỉ có thuyền mới hiểu, biển mêng mông dường nào. Chỉ có biển mới hiểu , thuyền đi đâu về đâu…”

Tám giờ mất rồi! Hân bồn chồn. Thường nếu bận việc, anh đã gọi điện thoại cho cô lúc bảy giờ, bảo cô cứ ăn cơm trước. Nhưng sáng nay, khi anh đi làm, chính anh đã hỏi cô: “ Em nhớ ngày hôm nay không?” Cô nguýt yêu: “ Ai mà thèm nhớ.” Anh bế thốc cô lên, hôn cô và bảo: “ Chiều nay anh sẽ về sớm”. À, cô chợt hiểu, có lẽ giờ nầy anh đang dán mắt vào những tủ kính trong cái cửa hàng nào đó để chọn quà cho cô! Cô thật lơ đãng, vậy mà không nghĩ ra.

Từ chiều giờ hát nhiều mỏi miệng, Họa Mi nằm nghỉ ngơi, mở nhạc nghe. Nhưng khi những giai điệu vui tươi ngọt ngào cất lên lại khiến cô hưng phấn. Cô đứng dậy, nhảy nhót theo điệu nhạc. Hứng thú , cô vào giường bê cái gối ôm to đùng. Được đấy Nguyên, nhảy với em nào! Cô ôm gối nhắm mắt, tưởng tượng đang ôm Nguyên, say sưa. Chát- bùm bum. Chát -bùm bum…Tuyệt lắm anh yêu! Chát -bùm bum…

Ủa, gần chín giờ! Sao Nguyên chọn quà lâu vậy há? Hân buông cái gối ra, thả người xuống sô -pha. Thở. Chắc anh đang trên đường về, hay mình gọi di động xem sao. Hân bấm máy, chờ đợi câu nói quen thuộc : “ Em đó hả?” Nhưng không. Trả lời cô là: “Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được, xin quý khách vui lòng gọi lại sau”. Hân lặng người. Có điều gì không ổn rồi. Nguyên của cô đang ở đâu? Tại sao tắt máy? Cô bấm lại, hệt như vậy. Cô cứ giữ mãi ống nghe trên tai. Bên kia đầu dây, tiếng tút tút xa vắng, vô vọng… Hân bỏ máy xuống. Bần thần. Không thể nào do việc chọn quà mà mãi đến giờ nầy vẫn chưa về. Ít ra, vì lí do gì thì anh cũng phải gọi cho cô chứ! Vậy mà chiều nay cô phải xin phép cơ quan nghỉ làm sớm để chuẩn bị cho một buổi tối vô vị, trớ trêu như thế nầy! Hân đứng dậy nhìn bàn ăn đã lạnh tanh, bình hoa bỗng trở nên vô hồn mà muốn khóc. Một ánh chớp lóe sáng làm cô giật thót người. Tiếng sấm ầm ầm vang lên khiến cô bừng tỉnh. Cô vỗ hai bàn tay vào nhau kêu cái “ bốp”. Mình thật nông nổi! Chính mình đã luôn dặn dò ảnh hễ sấm sét thì phải tắt ngay điện thoại kia mà. Có tiếng xe ngoài cổng. Đó! Thấy chưa, bỏ cái tật bộp chộp đi nhá. Hân chạy bổ ra phía cửa lớn, nhưng chiếc xe đã rẽ sang hẻm bên cạnh.

Chín giờ hăm lăm! Có thể chiều nay anh bận một cái hợp đồng, rồi đi ngoại giao, tính gọi về nhưng ông bạn nào đó nói khích, bộ phải xin phép vợ hả cha nội? Nên anh thôi. Tính anh vốn sĩ diện. Đáng trách là cái ông bạn kia, lẽ ra ông ta nên bảo Nguyên gọi về nhà mới phải chứ! Đằng nầy ngược lại! Không, lí do nầy khó chấp nhận, anh có thể ra ngoài gọi, ai nghe nào? Hay anh mãi mê lo công việc nên quên gọi cho cô, có vẻ hợp lí hơn nhưng vẫn thấy buồn .

Ngoài trời, cơn mưa bỗng nặng hạt. Hân mở ti -vi lên coi. Phim khá hấp dẫn nhưng không lôi cuốn được cô. Cô liên tục nhìn đồng hồ. Có lúc cô mong nó chạy nhanh, cho anh mau về với cô. Có lúc cô lại mong nó chạy chậm vì nếu khuya quá, anh xỉn đâu đó không dám về, sợ nguy hiểm. Cô đã từng dặn anh, kẹt việc ở đâu, lỡ khuya khoắt mà đường còn xa nên kiếm chỗ ở lại, vì đoạn đường gần nhà đã từng xảy ra chuyện giết người cướp xe. Hân nhắm mắt cố xua tan mọi ám ảnh. Không, anh sẽ không bao giờ gặp chuyện rủi ro. Cô tin vậy. Cũng như cô tin mình luôn được may mắn. Hân tắt ti-vi. Hát lên đi! Hát sẽ làm ta quên hết. Thế là Họa Mi hát, hết bài nọ đến bài kia. “ Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi…” “ Em đi qua chuyến đò thấy con trăng đang nằm ngủ. Con sông là quán trọ và trăng tên lãng du…”… Hát mỏi, Họa Mi mở nhạc. Bao nỗi niềm trong cô lắng xuống.

Mười một giờ kém mười! Hân gọi lại cho chồng. Vẫn như cũ. Xa ngút. Vô vọng... Cô ngồi ủ rũ âu sầu bên cái điện thoại. Nước mắt chực trào ra. A, thử gọi anh Hoàng xem sao. Anh ấy là bạn thân của Nguyên, có thể nhờ anh ấy tìm Nguyên. Nhưng… ngại quá! Ảnh sẽ nghĩ sao về Nguyên, về mình? Hay gọi Bảo, kế toán của Nguyên, vẫn thường đi chơi với anh. Không được, Bảo sẽ cười mình, sẽ coi thường chồng mình. Rồi có thể Bảo đem chuyện nầy ra nói lung tung, Nguyên sẽ bị bạn bè chọc quê, sẽ trở thành trò đùa cho thiên hạ.

Cần tìm cách gì hay hơn? Ồ, Thu thân thiết ơi, vậy mà tao quên béng mầy đi. Lại khóa máy! Lưỡng lự một lát, Hân đành gọi điện thoại bàn. Giọng Thu bên kia làm Hân nhẹ cả người. Thu hốt hoảng: “ Có chuyện gì không Hân?” “ Gay go nhỉ? Lão nầy chắc có vấn đề.” “ Chà, biết tìm lão ở đâu bây giờ? Từ nay mầy phải cảnh giác, thời buổi nầy, cỡ như ông Nguyên ra đường con gái sắp hàng chạy theo.” “ À, dĩ nhiên ổng là người đàng hoàng, tao không phủ nhận điều đó, nhưng vấn đề là ổng có đủ sức chống lại những cám dỗ?” “Mà thôi, chắc chưa đến nổi nào đâu. Tao thấy ổng vẫn yêu mầy dữ dội lắm mà. Ráng đợi ổng tí coi.” “Có gì cần mầy cứ gọi tao.” “ Ừ, gọi di động” “ Ồ! Đừng ngại! Bạn bè với nhau chính là những lúc nầy!” “ Không sao đâu mà!” “ Ừ, thì tao để chế độ rung, bọc túi áo nè! Vậy nhé!”

Lý lẽ của Thu làm Hân băn khoăn lo lắng. Đúng, có thể lắm, đàn ông dễ bị dụ dỗ lôi kéo. Họ lại thích ăn vụng, thích của lạ. Món ăn vụng dù dở họ cũng ưa nhâm nhi. Của lạ dù xấu họ cũng thấy khoan khoái. Biết đâu giờ nầy anh ta đang ở bên một đứa con gái nào đó? Ngực Hân nhói lên, mặt nóng bừng. Cô nuốt nước miếng đánh ực. Phải làm cái gì đi chứ! Không lẽ ngồi đây khóc trong khi anh ta đang hoan lạc? Hân nóng nảy đi tới đi lui. Chiếc áo đầm dạ hội vướng víu. Cô bực tức, thay phăng nó bằng cái váy ngủ ngắn cũn cỡn. Mình phải làm gì? Cô lại bấm máy gọi, vẫn không được. Cô điên tiết dằn mạnh cái ống nghe. Được rồi. Trước hết mình phải bình tĩnh chờ đợi. Chừng ảnh về, mình sẽ tra khảo. Nhưng… nếu Nguyên cố tình giấu, cô sẽ làm gì được Nguyên? Ồ, không nên! Làm vậy anh ta thấy động, càng tinh vi hơn. Có lẽ mình cứ giả vờ như không biết gì cả, rồi sau đó, từ từ dò la. Trong cái thị xã nhỏ bé nầy, những chuyện mèo chuột không giấu kín được đâu. Hừ, biết đâu anh ta đã có bồ nhí từ lâu rồi mà mình không biết. Để coi nào! Gần đây Nguyên hay về trễ, thường bỏ cơm nhà, có lúc lạnh nhạt với mình nhưng lại có lúc rất đằm thắm mặn nồng. Thỉnh thoảng ra ngoài sân nghe điện thoại di động. Có phải đó là những dấu hiệu đáng ngờ?

Càng nghĩ, Hân càng đau đớn. Hoá ra bấy lâu nay cô hết lòng yêu thương và sống bên cạnh con người phản bội kia? Giờ mình sẽ làm gì? Sẽ tìm cách bắt quả tang Nguyên và con nhỏ kia! Đúng! Cần phải bắt quả tang! Cô tưởng tượng ra cảnh ấy. Con nhỏ kia sẽ vùng bỏ chạy. Nguyên thì quỳ xuống xin cô tha thứ. Lúc đó cô sẽ xử sự như thế nào? Tốt nhất là cô nhìn trừng trừng vào mặt anh ta một cách khinh bỉ rồi bỏ về. Còn nó? Chắc chắn nó là hạng người không ra gì, là thứ đàn bà không đáng để cô phải bẩn tay bẩn miệng. Nhưng rồi sau đó thì sao? Cô có tiếp tục sống với Nguyên nữa không? Chẳng lẽ chứng kiến cảnh đó rồi còn ăn ở được với nhau. Và anh sẽ lấy con kia ư? Chắc là vậy rồi. Nước mắt Hân ràn rụa. Không, làm như thế là nối giáo cho giặc. Phải chọn giải pháp khác.

A ha! Được rồi, anh ta sẽ sống như thế nào suốt quãng đời còn lại nếu mình cho anh ta thấy chính anh ta đã giết mình. Mình chết là xong, là yên nghỉ thảnh thơi. Còn anh ta, có tòa án nào cho bằng tòa án lương tâm. A ha! Một cách trả thù ngọt ngào mà hiệu quả cao. Được, rồi anh sẽ thấy. Tôi sẽ ám ảnh anh suốt đời. Anh sẽ bị đưa vào nhà thương điên. Anh sẽ nói cười khóc lóc, ân hận dày vò. Con kia sẽ không thèm ngó tới anh. Lẽ đương nhiên thôi! Cái thứ đó là vậy. Anh sẽ thấy chỉ có vợ anh mới là người thực sự yêu thương anh. Nhưng tất cả đã quá muộn. Anh ngàn lần hối hận cũng không làm gì được nữa! Được, anh sẽ thấy! Hân bậm môi kiên quyết.

Nhưng để xem nên chết bằng cách nào cho êm ái? Hân vốn sợ đau. À, hình như Hân nghe đâu đó có người tự tử bằng cách xịt nước hoa nồng nặc rồi đóng kín phòng lại. Kiểu nầy vừa dễ chịu, vừa đẹp, lại thơm nức. Hân hăm hở vào bàn trang điểm. Nước hoa thì cô không bao giờ thiếu. Oái oăm thay, tất cả đều là của Nguyên tặng cô! Toàn những loại sang trọng đắt tiền. Tiếc thật nhưng phải đành thôi! Khi mọi việc đâu vào đó, Hân mặc lại chiếc áo đầm dạ hội lúc nãy. Chết cũng phải cho đẹp. Nguyên sẽ ngắm mãi cô, sẽ gục khóc bên cô, sẽ tha hồ mà thương tiếc! Cô soi gương trang điểm lại những chỗ bị nước mắt làm nhòe đi rồi lên giường nằm với trái tim sắp vỡ tung, chờ đợi cái chết.

Hân cảm thấy khó thở. Cô sắp chết rồi sao? Bỗng dưng Hân thấy sợ. Cô hình dung, lát nữa chết rồi cô sẽ đi đâu? Nơi ấy như thế nào? Những người thương yêu của cô đều đang sống. Vậy cô sẽ hoàn toàn cô đơn trơ trọi ở nơi ấy. Cô tin mình không phải xuống địa ngục vì cô chưa hề làm điều ác với ai, nhưng cô vẫn thấy sợ hãi một điều gì đó hãy còn mơ hồ. Kinh khủng hơn nữa là cô sẽ nằm giữa bãi tha ma, nhất là những đêm mưa gió sấm sét như thế nầy! Ôi thôi! Cô vốn là đứa nhát gan, rất sợ ma!

Thử xem lại, nếu cô chết, biết đâu Nguyên chỉ khóc thương cô được mấy bữa- thậm chí chỉ giả bộ - rồi sẽ lấy vợ khác, lấy cái con mà bây giờ Nguyên đang ôm ấp. Chứ không hề ân hận dày vò như cô nghĩ. Trời ơi là trời! Rồi nó sẽ có Nguyên, sẽ được hưởng căn nhà nầy, tất cả đồ đạc nầy. Hừ, cũng lại đi nối giáo cho giặc! Sao mình ngốc đến như thế ? Còn nữa, cô vừa đặt may ba bộ váy tuyệt đẹp chưa kịp mặc. Mình mặc những chiếc váy đó, chắc chắn Nguyên sẽ khen tít mắt tít mũi. Vậy thì không nên chết! Dại gì mà chết! Đúng là mình lú lẩn điên khùng mất rồi. Hân vùng dậy chạy ra khỏi phòng ngủ. Cô mở toang tất cả các cửa, bật quạt quay vù vù.

Nhưng, phải làm cái gì chứ? Gần mười hai giờ rồi! Hân không muốn gọi cho Thu. Giờ nầy Thu cũng chẳng thể giúp gì được. Hơn nữa, biết đâu lại quấy rối vợ chồng nó. Kỳ cục lắm!

A! Hay mình giả vờ chết để coi Nguyên như thế nào, sẽ biết được con người thật của anh ta. Hân đi tới đi lui suy nghĩ. Mình sẽ giả bộ trúng gió. Để tăng phần thương tâm bi đát, mình vò tóc tai cho rũ rượi thê thảm ra, rồi nằm sấp ngay cửa ra vào. Nguyên về, dắt xe vô, vấp phải ! Anh ta sẽ hốt hoảng la lên. Rồi nhất thiết anh phải hiểu rằng vì mình ngồi đợi anh trước cửa mà bị trúng gió độc. Lúc ấy mình sẽ he hé mắt coi anh ta như thế nào, mình sẽ thấy được con người thực sự của anh ta. Tính toán đâu ra đó, Hân nằm soài dưới sàn nhà, sấp người xuống ngay cửa. Đợi.

Lâu quá! Nguyên vẫn chưa về! Hân chạy vào coi đồng hồ, mười hai giờ mười lăm. Cô lại bấm máy gọi, vẫn như cũ, tút tút … Vô vọng… Nằm giả vờ chết vừa mệt vừa chán. Nghĩ tới nghĩ lui, càng thấy mình khùng, Hân bỏ kế hoạch đó. Hát lên nào! Phải, chỉ có hát là thượng sách! Họa Mi thì thầm, em ơi nghe chăng mùa xuân, mùa xuân hát ở trong lòng. Đất nước với sức sống mới như chim én bay trên trời cao. Em ơi nghe chăng tình yêu, tình yêu hé mở ban đầu… Bao nhọc nhằn sầu khổ trong Hân bỗng trôi tuột theo câu hát.

Mưa vẫn như cầm chỉnh mà đổ. Xối xả. Sấm sét đua nhau cào xé, rạch nát, nổ tung cả bầu trời. Mắt trái Hân bỗng giật giật liên tục. Thôi rồi, cô được biết mắt trái giật là có chuyện không hay. Cô lạnh toát người. Run lên. Có thể anh bị tai nạn? Có thể anh về khi trời mưa, đường trơn trợt mà anh lại cố chạy nhanh về với cô vì sợ cô mong. Anh bị trượt té, đầu anh va vào cục đá, anh ngất xỉu… Chiếc điện thoại bị văng ra ngoài, và vì lí do nào đó máy bị hư. Giờ anh đang nằm đâu đó bên vệ đường. Ướt sũng. Lạnh ngắt. Máu me đầm đìa…Chắc vậy chứ Nguyên không bao giờ phản bội cô. Không bao giờ!

Tim Hân chợt thắt lại. Kinh hãi và đau đớn tột cùng. Cô ngồi phịch xuống sàn nhà ôm mặt khóc nức nở. Bỗng cô quả quyết đứng dậy. Nước mắt nước mũi tèm lem trên khuôn mặt bê bết phấn son. Mình phải làm gì đi chứ? Phải tìm cách cứu anh ấy, kẻo anh ấy chết mất! Hân đang lúng túng, bối rối chưa biết phải làm sao thì Nguyên vừa về!

Nguyên chẳng làm sao cả! Anh vào nhà. Dựng xe. Cởi áo mưa. Hân ùa tới ôm chầm lấy anh. Vùi đầu vào ngực anh. Bao lo lắng nghi ngờ hờn giận thoắt tan biến như những chiếc bong bóng nước tròn xoe đang vỡ nhanh ngoài sân. Cô lấp tiếng nấc còn nghẹn nơi cổ bằng tiếng rên nũng nịu âu yếm. Cô chậm giọt nước mắt còn đọng trên rèm mi vào áo anh. Mùi hương quen thuộc trên người anh tỏa ra, xua tan tất cả. Nguyên của cô đã về! Đó là tất cả!

Nguyên vuốt tóc cô, dịu dàng: “ Em biết không, mưa lớn quá, nước tràn vào kho chứa xi măng. Thế là tất cả mọi người đều lao vào khiêng, kê…dọn dẹp, may là chỉ ướt chừng vài chục bao. Xong việc anh chạy về ngay! Đừng buồn anh em nhé! Kìa, sao nhà sực nức mùi nước hoa vậy em?” “ Dạ, em xịt cho thơm…”

Hân xoắn xíu chạy đi lấy quần áo, khăn tắm cho chồng. Lòng cô nhẹ nhõm, hoan hỉ. Rồi theo thói quen, cô cất tiếng hát vang: “ Tình yêu là chiếc lá xanh , là những đám mây bồng bềnh trong nắng. Tình yêu là những cánh chim , là tiếng hát em trong xanh êm đềm. Hãy giữ lấy tình yêu…”.

Đang tắm, Nguyên khựng lại, tắt vòi nước để lắng nghe tiếng hót trong trẻo niềm tin, nồng ấm yêu thương của Họa Mi giữa đêm khuya. Nguyên lặng người, tự xỉ vả mình là thằng tồi, là đồ đê tiện, là kẻ nhẫn tâm, là… Anh cố tìm thật nhiều từ ngữ xấu xa nhất để chửi mắng mình.

Rồi anh xả nước thật mạnh. Nước làm trôi đi tất cả những nhơ nhuốc trên thân thể anh. Và tiếng hát kia đang gột sạch những vết bẩn còn sót lại trong tâm hồn anh.

*

Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2007

LÊ VĂN THỌ

LÊ VĂN THỌ

Say mây học trò.








Chiều em áo trắng vờn bay
Chiều anh dăm chén rượu cay men nồng
Chân em bước nhẹ gót hồng
Đôi tà áo trắng bềnh bồng tóc mây
Ngàn áo trắng ngỡ rừng mây
Mây trôi man mác trắng bay phố phường
Thoáng trông lòng bổng vấn vương
Tâm tư xao động đời thường thôi em
Cho anh dăm chén rượu thêm
Anh về với thuở nổi niềm ngày xưa
Đơn sơ quên cả nắng mưa
Theo chân nhau bước đón đưa từng ngày
Thuở chưa biết áo trắng bay
Là mây trắng phủ hôm nay nẻo đường
Nâng lên nhấp chén thân thương
Say mây áo trắng quyện hương học trò.

Lvt ( Đà Nẵng)

NGUYỄN LỆ UYÊN

NGUYỄN LỆ UYÊN

VỀ TUY HÒA

“Ngày12 tháng 5...

Anh,

Về tới nhà đã xâm xẩm tối. Tắm rửa xong, ngồi nói chuyện với cả nhà một lát thấy người mỏi mệt hung, bỏ vào phòng nằm. Tưởng có thể nhắm mắt ngủ ngay, nhưng dư âm của những ổ gà, bụi đường và chiếc xe đò cọc cạch rung lật bật trên đoạn đường dài đã chống hai mí mắt lên, không tài nào ngủ được. Thao thức và nghĩ ngợi đủ thứ chuyện, nghĩ lung tung như cách để gần anh, thấy như có anh còn ở bên cạnh, đến nỗi đứa em em ra ngã Năm mua tô cháo gà giờ đã nguội ngắt.

Ngoài phòng khách có tiếng cười lích nhích của mấy đứa em, rồi là tiếng lào thào: “Cái bà này mới lạ, làm như ngoài này không có bánh mì kẹp thịt hay sao mà phải vác từ trỏng về?”. Chúng nó đâu có biết những điều chúng vừa khám phá là do anh bày ra. Anh lo em đói giữa đường, lo xe hỏng đâu đó trên quãng đường vắng. Sự chỉn chu hình như đôi khi cũng hơi phiền phức, anh nhỉ? Duy chỉ có chai dầu Gió Xanh là hết vèo ở đoạn Rừng Lá. Còn hai chai nước thì khi xe đổ đèo Cả mới thanh toán một cách gọn ghẽ bằng cách thò đầu ra ngoài cửa rửa mặt cho tỉnh táo, cho sạch chút son phấn làm duyên. Không rõ nếu như có anh ngồi bên cạnh thì em có can đảm xóa đi cái duyên dáng tạm ấy không? Mà duyên gì được nữa kia chớ? Mấy trăm cây số va qua đập lại thiếu điều gãy cả xương sườn xương sống, mọi thứ trong bao tử cứ tưng tưng đòi nhảy ra ngoài tới phờ phạc thì đến Hằng Nga cũng biến thành Chung Vô Diệm anh ơi!

Đấy, đường ra xứ em nó nhiêu khê là vậy, thử hỏi anh có can đảm trèo tam tứ núi, lội thập lục sông như khi ngồi trong La Pagode anh thề thốt không? Các cụ thường bảo đám đàn ông con trai khi ngồi bên cạnh phụ nữ luôn đầu môi chót lưỡi. Em mong anh không lấy cái thuộc tính đàn ông bị đả kích kia mà đối xử với em. Dòm bộ dạng anh cũng cảm ra được là anh thuộc mẫu người thiệt thà, chắc bụng, chứ không như đám... Ui, em xin lỗi; chỉ là lỡ tay viết ra chớ không có ý định ví von này nọ. Em có thói quen khi viết sai thì cứ để nguyên vậy chớ ít khi dập xóa, đấy cũng là tính xấu không sửa chữa được, dễ gây hiểu lầm.

Bữa ra bến xe lấy vé, anh mua những hai chiếc. Em hỏi mua chi đến hai vé? Anh nói anh cùng đi để hộ tống em khỏi bị bắt cóc và thứ đến là “cho biết xứ em có đẹp bằng em không?”. Mô Phật! Mệnh đề thứ nhất có vẻ như anh bị ám ảnh bởi những hoang tưởng của phim ảnh mấy ông đạo diễn dựng lên. Còn mệnh đề thứ hai thì thiếu cả hai điều kiện ắt có và đủ. Ví như em để anh cùng đi thì sao nhỉ? Em sẽ ăn nói sao với ba mẹ và mấy đứa em em? Một thành viên lạ hoắc tự dưng xuất hiện bên cạnh con gái mình, chị mình? Họ sẽ nghĩ chắc em hư hỏng lắm khi khăn gói vào Sài Gòn ăn học? Thiệt kinh khủng nếu chuyện ấy xảy ra. May mà em kịp giải thích để ngăn anh lại. Và may là anh cũng chịu khó ngồi nghe lời giải thích vòng vèo không lấy gì làm vui vẻ với anh. Mà nếu như anh thiệt bụng, ngay thẳng thì sớm muộn gì anh không biết, chớ chi mà gấp gáp? Anh không nghe câu thành ngữ “dục tốc bất đạt” muôn thuở kia sao?

Mùa này, mỗi ngày đang bắt đầu nóng dần lên, nóng từ từ như một bếp lò mới nhen lửa lúc đầu cho tới khi than đỏ hực lên. Suốt dọc miền Trung chỗ nào cũng như vậy cả: nóng gắt và Nam cồ Nam mái. Mấy nơi khác em chưa tới nên chưa biết, còn Tuy Hòa tới mùa này gió Nam thiệt dữ dội, thấy cả gió cuộn lên trước mắt. Gió đùa giỡn với những chiếc lá rụng cuốn tròn chấp chới những cánh chim tập bay khắp các ngách phố lớn nhỏ, những mẩu giấy rác... ngoắc ngoải vờ vật tung lên, hạ xuống. Gió hốt cát xáng rào rào vào những cánh cửa sắt khép hờ, bay lượn trên mâm cơm. Gió thổi thốc cuộn xoắn dọc hai triền cát sông Đà Rằng tung bụi mù mịt cả một đoạn sông dài. Mọi vật đều được thoa một lớp bụi phấn gây nhột nhạt như lấy bông cỏ may quẹt gan bàn chân, ngoáy vào lỗ mũi vậy. Mẹ em kể hồi nẳm gió Nam cồ còn bốc cả mái ngói vảy ném xuống sân nói chi đến mái rạ mái tranh! Còn ba em thì nói cũng nhờ ngọn gió đó thổi ba bay tuốt vào cầu Bóng để gặp má. Cái thứ gió lạ lùng vừa lãng mạn, thơ mộng vừa gây khó chịu cho lắm người. Mà anh đâu hình dung Nam cồ Nam mái là gì phải không? Nam mái là hiu hiu như kiểu người con gái hờn dỗi. Còn Nam cồ thì hung hãn hơn gấp trăm lần, như thể trận lôi đình của người cha có đứa con hư hỏng vậy. Nói vậy chớ nó chỉ thổi tung chừng vài tiếng thôi, lúc nửa đêm một chặp rồi nửa buổi sáng về trưa một chặp. Còn lại đều lặng lờ yên ả như chưa từng xảy ra chuyện gì cả. Mà tự dưng sao lại đem cái gió tào lao kia nói với anh nhỉ? Đâu có gì nhè nhẹ như ngọn heo may đất Bắc hay ngọn gió chướng quê anh? Cái loại gió ác liệt này đôi khi làm tụi con gái bọn em đến là mắc cỡ mỗi khi tới lớp và tan trường: gió thổi lật tà áo dài phơi ra chút da thịt chỗ thắt lưng, rồi thì cuộn thốc muốn lật tung chiếc quần mặc bên trong. Tay líu quíu chưa kịp khép vạt áo thì hàng trăm cặp mắt bọn con trai dán vào như muốn lột trần ra. Một cảm giác gai rợn cứ len nhẹ từ đầu xuống chân rồi lộn ngược trở lên cho tới khi giữ được vạt áo căng phồng một cách tạm bợ. Cái ngọn gió hung hăng, nóng nảy kiểu Trương Phi ấy cũng góp phần làm tàn phai nhan sắc nhiều phụ nữ: phấn son nhòe với bụi đường, quần áo như dày thêm vài ly một cách nhếch nhác, còn đầu tóc thì rối nùi như đụn rơm khô, như những vạt rơm gà bươi, vì vậy tụi em mỗi khi ra đường đều có cái lược để gỡ tóc. Đang đi cũng đưa lược lên chải, đứng cũng chải, ngồi cũng chải. Thiệt phiền phức. Vậy mà nhiều người mới tới Tuy Hòa, mới chạm tới ngọn gió lạ một chút thì có cảm giác như vừa khám phá ra điều mới lạ, thấy nó đẹp. Đẹp bởi cách nó thổi dọc ngang phóng túng như một gã hành giả trên đường đi tìm sự chứng ngộ cho riêng mình, như một tên lang bạt kỳ hồ trên con đường thiên lý, giày vẹt gót, áo sờn vai; như có một ông nhà thơ kêu lên “Ơi cái gió Tuy Hòa... Cái gió chuyên cần và phóng túng”. Còn em, mỗi năm chỉ giáp mặt với nó một lần thôi mà đã thấy hãi. Em sợ kinh khủng. Mọi người cũng sợ nhưng không thể tránh mặt mà phải chung đụng với nó suốt cả tháng trời. May mà nó không kéo dài lâu để con gái Tuy Hoà vẫn tròn nụ cười, má hồng, mắt lúng liếng...

Không tài nào nhắm mắt được, nên ngồi viết lung tung. Viết để kéo cơn buồn ngủ xích lại gần và kéo anh xích gần hơn với khoảng cách cơ học dằng dặc.

Đầu óc phờ phạc và tay mỏi rồi. Em đi nằm đây.

Ngày 14 tháng 5...

Anh,

Tạm nghỉ một ngày để dưỡng tâm. Chính xác là để phục hồi cơ thể vốn dĩ không lấy gì làm mạnh mẽ như cánh đàn ông các anh, để chịu đựng mọi thứ gian khổ trên đời, dù đó là thứ gian khổ cấp tính.

Hôm qua và sáng nay anh làm những gì, đi những đâu hay là ngồi gõ trước máy chữ? Riêng em, sau một ngày được nghỉ ngơi thấy người khoẻ hẳn ra. Lũ bạn học cũ hay tin em về, lập tức tới rủ đi ăn cháo hàu kêu là “tẩm bổ cho con bé ốm yếu” rồi đi rảo phố. Anh biết không, mới vắng chừng một năm nhưng khi trở về thì thành phố đã khác trước nhiều, cứ như trái bầu trái bí lớn thêm mỗi sáng. Phố xá sầm uất, nhà cửa đủ mọi kiểu dáng: cao ngất, kênh kiệu của phương Tây; ẩn núp trong vườn cây lá um tùm, trầm mặc phương Đông... Đi qua chừng vài đường phố, em kêu nhỏ bạn: “Ê, cứ chạy vòng vòng kiểu này thì biết bao giờ mới hết, thôi thì chịu khó leo đốc lên núi Nhạn có thể nhìn khắp lượt mà không phải hít bụi đường”. Nó đồng ý và quay xe chạy lên đầu phố. Chiếc xe máy cà tàng chở hai đứa, không đầy tạ nhưng ì ạch, phì phèo như con ngựa già. Có lúc em phải nhảy xuống xe phụ đẩy một đoạn ngắn, muốn hụt hơi. Lên tới đỉnh mồ hôi dầm dề, ngồi bên phía bóng mát nền tháp há miệng mà thở, bẻ cành lá phe phẩy làm quạt. Biết vầy, hồi nãy cứ chạy lòng vòng coi bộ khỏe hơn nhiều.

Nói thế chớ lên đứng trên độ cao 70 mét dòm xuống thành phố bên dưới thấy y như bức tranh đẹp, giống như hồi anh dẫn em vào Gallery ở dường Tự Do xem tranh Phố Phái hay Phái Phố gì đó. Thành phố của em đẹp đến mê hồn, rực rỡ trong nắng sáng trong vắt. Bên này là chân núi dựng đứng, bên kia thì xoãi ra gần đụng đường quốc lộ như cái với tay níu giữ người thân nán lại vài phút trước khi rời căn nhà, góc phố để đi xa. Con sông Chùa ngắn và nước ửng xanh màu ngọc bích, vắt ngang qua nửa ngực thành phố in hệt nét chì tô xanh quầng mắt, như tấm khăn của người thiếu nữ vắt qua vai thả rơi lưng lửng xuống ngực; xa hơn chút, về hướng Bắc, ngọn Chóp Chài vút lên như núm vú căng tròn tuổi dậy thì. Mùa này nó là chiếc vú phơi trần nhưng mùa mưa thì cứ như có chiếc khăn trắng thả trễ tràng phía dưới. Đằng Đông, biển trải dài mênh mông mượt màu cỏ non, còn phía Tây thì những gốc rạ màu đất kéo thành vạt rộng, làm nền cho những rặng cây xanh thấp thoáng xa xa. Phố xá thì màu đỏ mái lợp ngạo nghễ nhô cao hơn những mái nhà màu xám rêu. May mà đường phố có những tán cây xanh, níu giữ màu đỏ choàng vai màu xám mốc kia chứ tuyền một màu đơn điệu thì coi bộ chướng mắt. Em chẳng biết tí gì về màu sắc hội họa như anh, nhưng xem ra những nhận xét này không sai mấy. Còn nữa, trước mắt em là cây cầu dài thườn thượt nối hai bờ con sông Đà Rằng. Giữa hai con sông là cồn phù sa tạo thành làng hoa Ngọc Lãng bốn mùa rực rỡ sắc màu. Cái tên Ngọc Lãng đẹp và coi bộ lãng mạn thiệt anh hẻ? Còn cây cầu bắc qua sông Đà Rằng đó dài tới hăm mốt nhịp lận, mà có ai đó đã ứng tác ra “cầu dài hăm mốt nhịp, anh theo không kịp, đợi anh với em ơi!?”. Xạo, làm gì mà “anh” không theo kịp “em”? Thiệt là nhức đầu vì ở đâu cây cầu cũng sinh chuyện, nào đếm cầu mấy nhịp lòng dạ sầu thương bấy nhiêu, nào là qua cầu gió giựt bay mất áo. Cây cầu đâu có sinh sự như vậy? Chỉ tại con người thôi. Nhưng chuyện gió giựt tung áo thì em đã viết cho anh ở đoạn trước. Giờ đứng trên đỉnh núi, gió chỉ hiu hiu, phía dưới là dòng sông lặng lờ, coi bộ hiền lành kiểu như Sơn Tinh và Thuỷ Tinh trong thời gian hưu chiến vậy.

Nhưng mà, nói gì thì nói, dân Tuy Hoà em rất tự hào có cây cầu dài nhất miền Trung. Cầu đường bộ và đường sắt cặp song song nhau mà hôm trước em chỉ cho anh trên tờ lịch treo tường. Và anh buột miệng: “May, chỉ là hai cây cầu chớ chàng và nàng thì thiệt là tội nghiệp!”. Em cãi “trên thực tế đầy ra đấy chớ không có sao?”. Anh cười cười mà không nói gì. Anh biết không, chếch lên một đoạn ngắn lại một cây cầu dài mới bắc qua sông Đà Rằng đâu hồi năm ngoái, đứng lẻ loi dòm xuống hai cây cầu phía dưới như than thở cho số phận cô đơn của mình. Mấy năm trước cầu Đà Rằng dưới này là nơi hóng mát của người dân trong thành phố, hẹn hò của các cặp tình nhân khi mặt trời chìm khuất sau dãy núi phía tây. Mùa hè, gió từ sông đưa lên mát rượi. Những đêm giữa tháng bọn em hay tới đứng trên vai cầu nhìn mặt trăng nhô lên từ phía biển Đông như thể đó là viên hồng ngọc của nàng tiên cá nâng lên khỏi làn nước xanh thẳm. Ban đầu, trăng to bằng chiếc bàn tròn hai đứa mình hay ngồi uống cà phê những sáng chủ nhật ở đường Nguyễn Du, soi một quầng sáng lóa vàng hực màu trái cam chín. Quầng sáng ấy kéo dài từ từ loang rộng những vạt vàng sóng nhấp nhô còn mặt trăng thì nhỏ lại, tròn như cái cão (rổ nhỏ) đựng kim chỉ của bà nội em, rồi nhỏ dần như trái banh như thể những mảnh vàng sáng chia sớt cho mặt nước? Những hình ảnh ấy cứ dội vào tâm trí em như những cuộn sóng đập vào bờ đá khiến cái ý nghĩ ngô nghê này cứ ám ảnh em hoài, tới tận bây giờ vẫn không đẩy ra khỏi đầu em được, không hiểu vì sao?

Anh biết không, nhiều người hay nhái từ “nẫu” địa phương em. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Cái lớn là một số khá đông bạn đồng lứa cũng thẳng thừng quay lưng lại với “nẫu”, xấu hổ mỗi khi có ai đụng chạm đến “nẫu”. Em chưa có dịp dùng từ này với anh, nhưng em luôn yêu nó vô cùng. Mỗi khi nhớ quê, em hay xuống Tân Bình ngồi nói chuyện với mấy người già gốc Phú Yên. Họ vì cuộc sống mà phải bỏ xứ vào đây, nhưng họ không bỏ giọng nói, bỏ những thói quen trong mọi sinh hoạt thường ngày. Tất cả như đã thấm đẫm vào trí óc họ từ những gốc rạ vùng lúa Tuy Hòa, từ những con thuyền đánh cá ở Lò Ba, Mỹ Á, Sông Cầu. Cứ như thể em đang hít thở không khí ở miền quê yên tĩnh, nơi em sinh ra và lớn lên. Có bữa ra chợ cầu Ông Lãnh mua cá, gặp bà cụ đang trả giá. Khi nghe bà cụ kêu lên “me chay, mắc dữ be... e” làm em giật thót tim. Từ “be” thoạt nghe như tiếng than nhưng không phải là lời than thở mắc rẻ, mà còn hàm chứa sự ngạc nhiên, dò hỏi, một chút giễu cợt trong sự phân vân thường thấy ở các bà nội trợ phải lo toan hàng trăm thứ cho gia đình, chồng con... Gặp người đồng hương, em mừng quýnh. Một già một trẻ hỏi han, nhắc nhở đủ thứ chuyện bên ly nước mía đầu đường. Khi chia tay bà ấy còn dặn “bữa nào huỡn cháu ghé lại nhà bác chơi”. Chiếc xích lô chở bà cụ đi xa, nhưng quanh quẩn bên em vẫn cứ ong ong những từ “me chay, dẫy na...” như thể đang hít mùi thơm khói đốt đồng căng đầy lồng ngực với sự khám phá thiệt mới lạ hương khói xa xôi ấy...

Cứ để ý đi, khi nào anh ra bến xe bến tàu đón người thân, hễ thấy ai kè kè bên nách gói giấy tròn căng phồng, khổ bằng chiếc sàng thì chắc chắn đó là dân Phú Yên trăm phần trăm. Họ mang quà cho người thân đấy! Có nhiều thứ khác quý hơn, nhưng đi đâu họ cũng mang chồng bánh tráng, dường như đó là niềm tự hào của mọi người bất luận giàu nghèo, khi được sở hữu cánh đồng lúa mênh mông và phì nhiêu của Tuy Hòa, đã nuôi dưỡng họ, nuôi dưỡng cả một vùng rộng lớn chung quanh. Đó là biểu tượng của hột gạo trên một xứ sở từng chịu nhiều khổ đau, vất vả mà dân quê em đã từng nếm trải, khổ đau và hạnh phúc trong chiến tranh và hòa bình. Mà năm rồi em không mang vào cho anh chồng bánh tráng là gì? Khi nướng phồng lên thì là tình là nghĩa, khi nhúng nước cuốn là dẻo thơm niềm hạnh phúc tròn đầy đó anh ơi. Mẹ em nói vậy.

Ngày 15 tháng 5...

Anh thân yêu,

Thư hôm qua em quên một chi tiết về dòng sông chảy ngang qua thành phố. Cùng một dòng chảy nhưng có tới hai tên gọi khác nhau. Đoạn từ đập Đồng Cam ngược lên thượng nguồn, đâu tận Phú Bổn, Cheo Reo gọi sông Ba, còn xuôi về phía hạ lưu thì là Đà Rằng. Dầu sông Ba hay Đà Rằng gì đi nữa thì con sông này chỉ có một dòng chảy và như cái bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân trong huyền thuyết “đồng bào” của dân tộc. Mùa mưa, nước ơi là nước! Nước mênh mông như biển cả. Nước cuồn cuộn đổ ra biển, đỏ quạch phù sa. Nước gầm réo dưới chân cầu thiệt là hung hãn, cuốn trôi tất cả những gì trên đường chúng đi qua, tưởng chừng như chiếc cầu dài ngằn ngặt này cũng bị đẩy phăng ra biển trong phút chốc. Cũng may, sự hung hãn này chỉ diễn ra có vài bữa thôi và xem ra cũng có ích: nó mang lớp phù sa dày đặc bồi thêm lớp màu mỡ cho cánh đồng “thẳng cánh cò bay”.

Nhớ hồi năm 93, lúc đó em còn là đứa trẻ con. Mấy bữa trước mưa dầm dề như cầm chĩnh trút nước vậy. Đến đêm nước ở đâu bò vào khắp nơi, vào các đường phố, bò lên thềm, nhảy tọt vào nhà, dâng lên cao đuổi bọn em chạy lên gác. Đứng ở cầu thang nhìn xuống thấy nước tới đầu gối rồi bò lên tới thắt lưng, rướn lên tới gần ngực ba. Điện bị cắt, đèn đóm tối thui. Có tiếng người la ơi ới, tiếng gõ xoong nồi gọi nhau như chạy giặc. Đồ đạc chuyển từ tầng dưới lên cái được cái không, ướt ngoi ngóp. Sáng ra đứng trên balcon ngó ra đường, thôi thì nước là nước, chỉ có ghe sõng xuôi ngược khắp các ngả phố, còn xe lớn xe nhỏ mọi ngày như chìm mất đâu đó trong làn nước đục ngầu. Tụi trẻ con được dịp tắm lụt: chúng ở trần lội nước, chặt những đoạn chuối ngắn xiên cây làm bè chống ngang dọc khắp các nơi như thể chúng đang vào mùa hội đua bè, khiến em nghĩ thành phố bữa trước giờ là dòng sông mênh mông nước, nhà cửa phố phường mọc lên từ mặt hồ rộng. Đứa em trai em cũng nhập bọn, la hét cười đùa thỏa thích, coi mọi hư hại do trận lụt băng qua chỉ là chuyện bình thường. Tới chiều xẩm nước mới rút từ từ, để lại những vạt bùn dẻo quánh trên vách, trên nền nhà, lòng đường... Hôm sau một cái chợ mọc lên ở ngã Năm, ồn ào náo nhiệt như thể trận lụt vừa rồi chỉ là bữa tắm gội cho thành phố. Bọn em đi coi họp chợ rồi rủ nhau lên đầu phố đứng nhóng qua chiếc cầu dài coi chiếc cầu còn hay trôi mất ra biển. Nỗi lo sợ vu vơ không thành sự thật. Nó vẫn bình thản nối hai bờ nam bắc dù cho dòng nước cuồn cuộn kia chỉ cách mặt cầu đâu hơn hai gang tay! Vậy mà đến mùa khô, dòng nước lừ đừ như con trăn no mồi, lười biếng nép mình giữa hai bãi soi vàng rực bông mướp, bông bí, cỏ lông lan tận ra mép nước xa. Hồi mới bước chân vào trung học, tụi con trai lớp em thường hay rủ nhau ra soi hái trộm dưa. Chúng giả đò đi tắm. Bọn chúng tắm thiệt. Cả bọn vẫy vùng trong làn nước trong vắt, cạn tới ngang bụng nhưng kỳ thực là để quan sát những trái dưa hấu chôn lấp đâu đó dưới lớp cát sâu. Chỉ cần những cái liếc mắt như kiểu con chim bói cá là một đứa bò lên, kéo sợi dây, moi cát và bứt gọn trái dưa bự chảng, trong khi tụi kia vẫn cứ té nước, la hét ỏm tỏi. Tụi con gái bọn em chỉ dám thọc chân xuống mép sóng lăn tăn giỡn với làn nước mát lạnh. Những trái dưa ăn trộm ngon hơn là đi ăn đám giỗ, ruột đỏ mọng, ngọt lừ. Uở mà sao tự dưng lại đi nhắc chuyện “xấu hổ” này với anh hẻ?

Để em kể chuyện này chắc chắn là anh chưa biết, chưa từng nếm bao giờ: Hồi sáng này mẹ con em đi chợ. Mẹ kêu lâu cả nhà chưa ăn sứa. Vậy là mẹ thực hiện ngay. Anh ở đồng bằng thì làm gì biết con sứa? Nó là sinh vật sống ở biển. Toàn thân mềm và trong suốt. Mẹ mua toàn sứa chân mang về chần nước sôi, trộn với rau thơm, chuối chát xanh, đậu phộng rang, da heo xắt nhỏ, thêm chanh ớt xúc vào chén ăn với bánh tráng nướng bóp nát. Nó ngon không thể chê vào đâu được. Thịt sứa mát lạnh, dòn dưới chân răng, thơm mùi rau húng đứng, húng duỗi và đậu phộng. Ăn tới no mà không thấy ớn, vì không có mỡ như cá tra, cá ba sa trong quê anh. Khi nào anh là thành viên chính thức trong gia đình, hẳn mẹ em sẽ đãi anh món này trước tiên. Anh ăn một lần sẽ nhớ đời. Mà biết đâu sau khi ăn anh sẽ bỏ xứ mà ra làm con dân trên mảnh đất hai mùa đầy những mưa cùng nắng này?

Nói đến chuyện ăn uống thì Tuy Hòa của em có nhiều món lạ lắm. Tỉ như món cá thài bai nấu cháo đậu cút thì cả nước này và cả trên thế giới không đâu có cá thài bai. Nó nhỏ bằng cọng tăm. Người ta bán không phải cân ký, đếm con mà lật ngược cái chén lên, đong bằng khu chén để tính tiền. Giá trị là ở chỗ đó. Chỉ cần ba khu chén cá thài bai nấu cháo đậu cút là ngọt lừ, thơm, mát, bổ... Mẹ em nói cháo cá thài bai nấu đậu cút tàu dành cho người ốm mới dậy ăn sẽ mau phục hồi sức khỏe. Loại cá này hiếm nên rất quý. Mỗi năm chỉ xuất hiện một lần khoảng nửa tháng trước và sau Tết âm lịch. Đám cá mẹ xuống tận cửa biển đẻ trứng. Nở ra, tự kiếm ăn được thì chúng bơi ngược dòng sông lên thượng nguồn, nên người ta dùng những tấm đăng nhỏ, tạo dòng chảy sát mép bờ cát để lũ thài bài nương theo đó mà vượt lên, phía trên có chiếc đó dày chặn lại bắt kỳ hết. Con nhỏ Nghi giỏi môn sinh vật kêu thài bai là thài bai chớ không phải là cá bống con như tụi em nghĩ. Cãi với nó mấy bận không thắng đành thôi, miễn sao loại cá này đừng mất để thỉnh thoảng còn được ăn: kho tiêu, làm chả ram những năm được mùa cá.

Toàn nói chuyện ăn chắc làm anh mệt? Giờ chuyển sang đề tài khác: nói về thành phố của em, anh nhẻ?

Thành phố bây giờ đã khác nhiều. Chẳng trách hồi em mới lững chững tập đi, mẹ kể thành phố chỉ toàn gai bàn chải, xương rồng và cồn cát. Trường Nguyễn Huệ hồi ba mẹ em học nằm lọt thỏm giữa rừng gai bàn chải lởm chởm. Nay anh có ra đi tìm gai bàn chải trong thành phố làm thuốc cũng không còn. Những cây gai lởm chởm nhọn hoắc kia giờ đã là những ngôi nhà cao tầng, biệt thự, xưởng máy và vô số những thứ khác mang dáng dấp hiện đại hơn, gần gũi với thời đại tên lửa, internet hơn. Nó cũng hối hả, nhộn nhịp như một góc nhỏ Sài Gòn chẳng kém.

Em thì mong cho thành phố to hơn, giàu hơn, mọi người dân có đời sống sung túc hơn, nhưng đồng thời em muốn những hình ảnh, nếp cũ của Tuy Hòa xưa vẫn luôn được tồn tại trong góc khuất nào đó của đời sống tinh thần, như ba em hay kể chuyện hồi nhỏ ông và đám bạn hay rủ nhau lên núi Nhạn giành chuối giành chè với lũ khỉ núi và đánh nhau với chúng ngay trước am thờ thần gần cửa tháp, kể về những cuộc hẹn hò với mẹ em trên bãi soi sáng rực bông mướp vàng đầy ắp giọng hò khoan của những nông dân cắt cỏ bò bên mép nước sông Đà Rằng. Hồi đó chắc khổ hơn bây giờ, nhưng lãng mạn. Con người lãng mạn để thành phố cũng trở nên lãng mạn, thơ mộng hơn. Còn thế hệ của bọn mình, sự lãng mạn ấy đã được cách tân hóa bằng cách chui đầu vào các quán cà phê tối om, các sàn nhảy nêm cứng người cùng tiếng nhạc phát ra ầm ầm như động đất!

Sẽ có người cho rằng em có những ý nghĩ cổ hũ, ích kỷ. Mược

ợơ kệ. Em yêu cái cổ hủ, ích kỷ ấy lắm lắm.

Ước chi bữa đó em đừng trả lại một chiếc vé để anh thấy tận mắt thành phố quê mùa này, em khỏi cà kê...”.

Bức thư chấm dứt đột ngột, dài hơn 10 trang, viết trên giấy pelure gập đôi, bằng màu mực xanh bút bi kẹp trong cuốn sách Phong Lưu Cũ Mới của cụ Vương Hồng Sển tôi mua lại trong tiệm sách cũ ở Bình Thạnh. Chỉ chừng ấy, không có chữ ký, không có tên người gửi, người nhận; chỉ xưng hô anh em, kể về thành phố Tuy Hòa bằng niềm thương nhớ, tự hào. Không rõ khi nhận thư, anh chàng đã lơ đễnh bỏ quên trong quyển sách cũ, hay cô nàng chưa kịp gửi tới tay người yêu? Tôi không quan tâm chuyện tại sao bức thư kia được kẹp trong cuốn sách, tại sao cuốn sách có bức thư đó lại ra nằm ngoài tiệm bán sách cũ. Và vợ tôi thì cứ khăng khăng đó là trang nhật ký của cô bé đang tuổi mộng mơ. Còn tôi thì nhất định đó là lá thư chứ nếu là nhật ký thì chẳng ai ngồi viết trên những tờ giấy mỏng dính? Trong thư không thấy bày tỏ lời yêu thương, nhưng quặn thắt nỗi nhớ nhung cũ mới chồng lên nhau.

Tôi vẫn giữ lá thư một cách cẩn thận và cầu mong cho hai người luôn bên nhau và tràn đầy hạnh phúc như những lời bày tỏ chân tình trong lá thư kia. Tôi cũng mong được hoàn trả lại nếu như các chủ nhân của nó là “em” và “anh” nhận biết được tung tích bức thư được cất trong chiếc hộp, khóa chặt trong tủ kính.

NLU.

nguồn @ thời văn số 7

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2007

TRẦN THỊ CỔ TÍCH

TRẦN THỊ CỔ TÍCH

ba ơi!

Ba mất đã ba năm

Con chưa làm nổi bài thơ vĩnh biệt

Bởi dòng đời con cứ mãi quanh co

Tuổi năm mươi bao nỗi tơ vò

Con thèm được ba chở đi lòng vòng

Như ngày xưa còn bé

Ngây ngô cười với những cánh chuồn bay

Ôi ngày xưa! Bên chiếc máy may

Ba tóc bạc cặm cụi may từng tấm áo

Mồ hôi thấm từng đường kim mũi chỉ

Từng nẻo đường chúng con học đó đây

Chín đứa con, con là èo uột nhất

Cứ ốm đau hoài khiến ba phải lo lắng thuốc thang

Thuốc đắng ngắt con vùng vằng không chịu uống

Quả chuối chín cầm tay ba cố dỗ dành

Móng chân bọng mủ nửa đêm con bật khóc

Ba là người thức giấc đầu tiên

Bàn tay nhẹ nhàng xoa vết đau con trẻ

Ru con vào giấc ngủ bình yên

Con lớn lên bước vào đại học

Vào trường đời, vào duyên nợ của riêng con

Ba vẫn cạnh bên con dìu dắt

Dù mắt ba chỉ còn bóng tối âm u

Các cháu lớn lên trong tình thương của ngoại

Có biết đâu ngày vĩnh biệt rất gần...

Ngày ba mất các anh ở xa không về được

Chị em gái con cùng lo sau trước

Ôm bài vị bước giật lùi trước linh cửu. Ba ơi!

Tiễn đưa ba mùa đông ấy không có mưa rơi

Gió níu mây về nghĩa trang buồn ngơ ngác

Chim rũ cánh nghẹn ngào không tiếng hát

Cõi vô cùng thanh thản bước ba đi.


Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2007

NGUYỄN LỆ UYÊN

NGUYỄN LỆ UYÊN

VỀ TUY HÒA

“Ngày12 tháng 5...

Anh,

Về tới nhà đã xâm xẩm tối. Tắm rửa xong, ngồi nói chuyện với cả nhà một lát thấy người mỏi mệt hung, bỏ vào phòng nằm. Tưởng có thể nhắm mắt ngủ ngay, nhưng dư âm của những ổ gà, bụi đường và chiếc xe đò cọc cạch rung lật bật trên đoạn đường dài đã chống hai mí mắt lên, không tài nào ngủ được. Thao thức và nghĩ ngợi đủ thứ chuyện, nghĩ lung tung như cách để gần anh, thấy như có anh còn ở bên cạnh, đến nỗi đứa em em ra ngã Năm mua tô cháo gà giờ đã nguội ngắt.

Ngoài phòng khách có tiếng cười lích nhích của mấy đứa em, rồi là tiếng lào thào: “Cái bà này mới lạ, làm như ngoài này không có bánh mì kẹp thịt hay sao mà phải vác từ trỏng về?”. Chúng nó đâu có biết những điều chúng vừa khám phá là do anh bày ra. Anh lo em đói giữa đường, lo xe hỏng đâu đó trên quãng đường vắng. Sự chỉn chu hình như đôi khi cũng hơi phiền phức, anh nhỉ? Duy chỉ có chai dầu Gió Xanh là hết vèo ở đoạn Rừng Lá. Còn hai chai nước thì khi xe đổ đèo Cả mới thanh toán một cách gọn ghẽ bằng cách thò đầu ra ngoài cửa rửa mặt cho tỉnh táo, cho sạch chút son phấn làm duyên. Không rõ nếu như có anh ngồi bên cạnh thì em có can đảm xóa đi cái duyên dáng tạm ấy không? Mà duyên gì được nữa kia chớ? Mấy trăm cây số va qua đập lại thiếu điều gãy cả xương sườn xương sống, mọi thứ trong bao tử cứ tưng tưng đòi nhảy ra ngoài tới phờ phạc thì đến Hằng Nga cũng biến thành Chung Vô Diệm anh ơi!

Đấy, đường ra xứ em nó nhiêu khê là vậy, thử hỏi anh có can đảm trèo tam tứ núi, lội thập lục sông như khi ngồi trong La Pagode anh thề thốt không? Các cụ thường bảo đám đàn ông con trai khi ngồi bên cạnh phụ nữ luôn đầu môi chót lưỡi. Em mong anh không lấy cái thuộc tính đàn ông bị đả kích kia mà đối xử với em. Dòm bộ dạng anh cũng cảm ra được là anh thuộc mẫu người thiệt thà, chắc bụng, chứ không như đám... Ui, em xin lỗi; chỉ là lỡ tay viết ra chớ không có ý định ví von này nọ. Em có thói quen khi viết sai thì cứ để nguyên vậy chớ ít khi dập xóa, đấy cũng là tính xấu không sửa chữa được, dễ gây hiểu lầm.

Bữa ra bến xe lấy vé, anh mua những hai chiếc. Em hỏi mua chi đến hai vé? Anh nói anh cùng đi để hộ tống em khỏi bị bắt cóc và thứ đến là “cho biết xứ em có đẹp bằng em không?”. Mô Phật! Mệnh đề thứ nhất có vẻ như anh bị ám ảnh bởi những hoang tưởng của phim ảnh mấy ông đạo diễn dựng lên. Còn mệnh đề thứ hai thì thiếu cả hai điều kiện ắt có và đủ. Ví như em để anh cùng đi thì sao nhỉ? Em sẽ ăn nói sao với ba mẹ và mấy đứa em em? Một thành viên lạ hoắc tự dưng xuất hiện bên cạnh con gái mình, chị mình? Họ sẽ nghĩ chắc em hư hỏng lắm khi khăn gói vào Sài Gòn ăn học? Thiệt kinh khủng nếu chuyện ấy xảy ra. May mà em kịp giải thích để ngăn anh lại. Và may là anh cũng chịu khó ngồi nghe lời giải thích vòng vèo không lấy gì làm vui vẻ với anh. Mà nếu như anh thiệt bụng, ngay thẳng thì sớm muộn gì anh không biết, chớ chi mà gấp gáp? Anh không nghe câu thành ngữ “dục tốc bất đạt” muôn thuở kia sao?

Mùa này, mỗi ngày đang bắt đầu nóng dần lên, nóng từ từ như một bếp lò mới nhen lửa lúc đầu cho tới khi than đỏ hực lên. Suốt dọc miền Trung chỗ nào cũng như vậy cả: nóng gắt và Nam cồ Nam mái. Mấy nơi khác em chưa tới nên chưa biết, còn Tuy Hòa tới mùa này gió Nam thiệt dữ dội, thấy cả gió cuộn lên trước mắt. Gió đùa giỡn với những chiếc lá rụng cuốn tròn chấp chới những cánh chim tập bay khắp các ngách phố lớn nhỏ, những mẩu giấy rác... ngoắc ngoải vờ vật tung lên, hạ xuống. Gió hốt cát xáng rào rào vào những cánh cửa sắt khép hờ, bay lượn trên mâm cơm. Gió thổi thốc cuộn xoắn dọc hai triền cát sông Đà Rằng tung bụi mù mịt cả một đoạn sông dài. Mọi vật đều được thoa một lớp bụi phấn gây nhột nhạt như lấy bông cỏ may quẹt gan bàn chân, ngoáy vào lỗ mũi vậy. Mẹ em kể hồi nẳm gió Nam cồ còn bốc cả mái ngói vảy ném xuống sân nói chi đến mái rạ mái tranh! Còn ba em thì nói cũng nhờ ngọn gió đó thổi ba bay tuốt vào cầu Bóng để gặp má. Cái thứ gió lạ lùng vừa lãng mạn, thơ mộng vừa gây khó chịu cho lắm người. Mà anh đâu hình dung Nam cồ Nam mái là gì phải không? Nam mái là hiu hiu như kiểu người con gái hờn dỗi. Còn Nam cồ thì hung hãn hơn gấp trăm lần, như thể trận lôi đình của người cha có đứa con hư hỏng vậy. Nói vậy chớ nó chỉ thổi tung chừng vài tiếng thôi, lúc nửa đêm một chặp rồi nửa buổi sáng về trưa một chặp. Còn lại đều lặng lờ yên ả như chưa từng xảy ra chuyện gì cả. Mà tự dưng sao lại đem cái gió tào lao kia nói với anh nhỉ? Đâu có gì nhè nhẹ như ngọn heo may đất Bắc hay ngọn gió chướng quê anh? Cái loại gió ác liệt này đôi khi làm tụi con gái bọn em đến là mắc cỡ mỗi khi tới lớp và tan trường: gió thổi lật tà áo dài phơi ra chút da thịt chỗ thắt lưng, rồi thì cuộn thốc muốn lật tung chiếc quần mặc bên trong. Tay líu quíu chưa kịp khép vạt áo thì hàng trăm cặp mắt bọn con trai dán vào như muốn lột trần ra. Một cảm giác gai rợn cứ len nhẹ từ đầu xuống chân rồi lộn ngược trở lên cho tới khi giữ được vạt áo căng phồng một cách tạm bợ. Cái ngọn gió hung hăng, nóng nảy kiểu Trương Phi ấy cũng góp phần làm tàn phai nhan sắc nhiều phụ nữ: phấn son nhòe với bụi đường, quần áo như dày thêm vài ly một cách nhếch nhác, còn đầu tóc thì rối nùi như đụn rơm khô, như những vạt rơm gà bươi, vì vậy tụi em mỗi khi ra đường đều có cái lược để gỡ tóc. Đang đi cũng đưa lược lên chải, đứng cũng chải, ngồi cũng chải. Thiệt phiền phức. Vậy mà nhiều người mới tới Tuy Hòa, mới chạm tới ngọn gió lạ một chút thì có cảm giác như vừa khám phá ra điều mới lạ, thấy nó đẹp. Đẹp bởi cách nó thổi dọc ngang phóng túng như một gã hành giả trên đường đi tìm sự chứng ngộ cho riêng mình, như một tên lang bạt kỳ hồ trên con đường thiên lý, giày vẹt gót, áo sờn vai; như có một ông nhà thơ kêu lên “Ơi cái gió Tuy Hòa... Cái gió chuyên cần và phóng túng”. Còn em, mỗi năm chỉ giáp mặt với nó một lần thôi mà đã thấy hãi. Em sợ kinh khủng. Mọi người cũng sợ nhưng không thể tránh mặt mà phải chung đụng với nó suốt cả tháng trời. May mà nó không kéo dài lâu để con gái Tuy Hoà vẫn tròn nụ cười, má hồng, mắt lúng liếng...

Không tài nào nhắm mắt được, nên ngồi viết lung tung. Viết để kéo cơn buồn ngủ xích lại gần và kéo anh xích gần hơn với khoảng cách cơ học dằng dặc.

Đầu óc phờ phạc và tay mỏi rồi. Em đi nằm đây.

Ngày 14 tháng 5...

Anh,

Tạm nghỉ một ngày để dưỡng tâm. Chính xác là để phục hồi cơ thể vốn dĩ không lấy gì làm mạnh mẽ như cánh đàn ông các anh, để chịu đựng mọi thứ gian khổ trên đời, dù đó là thứ gian khổ cấp tính.

Hôm qua và sáng nay anh làm những gì, đi những đâu hay là ngồi gõ trước máy chữ? Riêng em, sau một ngày được nghỉ ngơi thấy người khoẻ hẳn ra. Lũ bạn học cũ hay tin em về, lập tức tới rủ đi ăn cháo hàu kêu là “tẩm bổ cho con bé ốm yếu” rồi đi rảo phố. Anh biết không, mới vắng chừng một năm nhưng khi trở về thì thành phố đã khác trước nhiều, cứ như trái bầu trái bí lớn thêm mỗi sáng. Phố xá sầm uất, nhà cửa đủ mọi kiểu dáng: cao ngất, kênh kiệu của phương Tây; ẩn núp trong vườn cây lá um tùm, trầm mặc phương Đông... Đi qua chừng vài đường phố, em kêu nhỏ bạn: “Ê, cứ chạy vòng vòng kiểu này thì biết bao giờ mới hết, thôi thì chịu khó leo đốc lên núi Nhạn có thể nhìn khắp lượt mà không phải hít bụi đường”. Nó đồng ý và quay xe chạy lên đầu phố. Chiếc xe máy cà tàng chở hai đứa, không đầy tạ nhưng ì ạch, phì phèo như con ngựa già. Có lúc em phải nhảy xuống xe phụ đẩy một đoạn ngắn, muốn hụt hơi. Lên tới đỉnh mồ hôi dầm dề, ngồi bên phía bóng mát nền tháp há miệng mà thở, bẻ cành lá phe phẩy làm quạt. Biết vầy, hồi nãy cứ chạy lòng vòng coi bộ khỏe hơn nhiều.

Nói thế chớ lên đứng trên độ cao 70 mét dòm xuống thành phố bên dưới thấy y như bức tranh đẹp, giống như hồi anh dẫn em vào Gallery ở dường Tự Do xem tranh Phố Phái hay Phái Phố gì đó. Thành phố của em đẹp đến mê hồn, rực rỡ trong nắng sáng trong vắt. Bên này là chân núi dựng đứng, bên kia thì xoãi ra gần đụng đường quốc lộ như cái với tay níu giữ người thân nán lại vài phút trước khi rời căn nhà, góc phố để đi xa. Con sông Chùa ngắn và nước ửng xanh màu ngọc bích, vắt ngang qua nửa ngực thành phố in hệt nét chì tô xanh quầng mắt, như tấm khăn của người thiếu nữ vắt qua vai thả rơi lưng lửng xuống ngực; xa hơn chút, về hướng Bắc, ngọn Chóp Chài vút lên như núm vú căng tròn tuổi dậy thì. Mùa này nó là chiếc vú phơi trần nhưng mùa mưa thì cứ như có chiếc khăn trắng thả trễ tràng phía dưới. Đằng Đông, biển trải dài mênh mông mượt màu cỏ non, còn phía Tây thì những gốc rạ màu đất kéo thành vạt rộng, làm nền cho những rặng cây xanh thấp thoáng xa xa. Phố xá thì màu đỏ mái lợp ngạo nghễ nhô cao hơn những mái nhà màu xám rêu. May mà đường phố có những tán cây xanh, níu giữ màu đỏ choàng vai màu xám mốc kia chứ tuyền một màu đơn điệu thì coi bộ chướng mắt. Em chẳng biết tí gì về màu sắc hội họa như anh, nhưng xem ra những nhận xét này không sai mấy. Còn nữa, trước mắt em là cây cầu dài thườn thượt nối hai bờ con sông Đà Rằng. Giữa hai con sông là cồn phù sa tạo thành làng hoa Ngọc Lãng bốn mùa rực rỡ sắc màu. Cái tên Ngọc Lãng đẹp và coi bộ lãng mạn thiệt anh hẻ? Còn cây cầu bắc qua sông Đà Rằng đó dài tới hăm mốt nhịp lận, mà có ai đó đã ứng tác ra “cầu dài hăm mốt nhịp, anh theo không kịp, đợi anh với em ơi!?”. Xạo, làm gì mà “anh” không theo kịp “em”? Thiệt là nhức đầu vì ở đâu cây cầu cũng sinh chuyện, nào đếm cầu mấy nhịp lòng dạ sầu thương bấy nhiêu, nào là qua cầu gió giựt bay mất áo. Cây cầu đâu có sinh sự như vậy? Chỉ tại con người thôi. Nhưng chuyện gió giựt tung áo thì em đã viết cho anh ở đoạn trước. Giờ đứng trên đỉnh núi, gió chỉ hiu hiu, phía dưới là dòng sông lặng lờ, coi bộ hiền lành kiểu như Sơn Tinh và Thuỷ Tinh trong thời gian hưu chiến vậy.

Nhưng mà, nói gì thì nói, dân Tuy Hoà em rất tự hào có cây cầu dài nhất miền Trung. Cầu đường bộ và đường sắt cặp song song nhau mà hôm trước em chỉ cho anh trên tờ lịch treo tường. Và anh buột miệng: “May, chỉ là hai cây cầu chớ chàng và nàng thì thiệt là tội nghiệp!”. Em cãi “trên thực tế đầy ra đấy chớ không có sao?”. Anh cười cười mà không nói gì. Anh biết không, chếch lên một đoạn ngắn lại một cây cầu dài mới bắc qua sông Đà Rằng đâu hồi năm ngoái, đứng lẻ loi dòm xuống hai cây cầu phía dưới như than thở cho số phận cô đơn của mình. Mấy năm trước cầu Đà Rằng dưới này là nơi hóng mát của người dân trong thành phố, hẹn hò của các cặp tình nhân khi mặt trời chìm khuất sau dãy núi phía tây. Mùa hè, gió từ sông đưa lên mát rượi. Những đêm giữa tháng bọn em hay tới đứng trên vai cầu nhìn mặt trăng nhô lên từ phía biển Đông như thể đó là viên hồng ngọc của nàng tiên cá nâng lên khỏi làn nước xanh thẳm. Ban đầu, trăng to bằng chiếc bàn tròn hai đứa mình hay ngồi uống cà phê những sáng chủ nhật ở đường Nguyễn Du, soi một quầng sáng lóa vàng hực màu trái cam chín. Quầng sáng ấy kéo dài từ từ loang rộng những vạt vàng sóng nhấp nhô còn mặt trăng thì nhỏ lại, tròn như cái cão (rổ nhỏ) đựng kim chỉ của bà nội em, rồi nhỏ dần như trái banh như thể những mảnh vàng sáng chia sớt cho mặt nước? Những hình ảnh ấy cứ dội vào tâm trí em như những cuộn sóng đập vào bờ đá khiến cái ý nghĩ ngô nghê này cứ ám ảnh em hoài, tới tận bây giờ vẫn không đẩy ra khỏi đầu em được, không hiểu vì sao?

Anh biết không, nhiều người hay nhái từ “nẫu” địa phương em. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Cái lớn là một số khá đông bạn đồng lứa cũng thẳng thừng quay lưng lại với “nẫu”, xấu hổ mỗi khi có ai đụng chạm đến “nẫu”. Em chưa có dịp dùng từ này với anh, nhưng em luôn yêu nó vô cùng. Mỗi khi nhớ quê, em hay xuống Tân Bình ngồi nói chuyện với mấy người già gốc Phú Yên. Họ vì cuộc sống mà phải bỏ xứ vào đây, nhưng họ không bỏ giọng nói, bỏ những thói quen trong mọi sinh hoạt thường ngày. Tất cả như đã thấm đẫm vào trí óc họ từ những gốc rạ vùng lúa Tuy Hòa, từ những con thuyền đánh cá ở Lò Ba, Mỹ Á, Sông Cầu. Cứ như thể em đang hít thở không khí ở miền quê yên tĩnh, nơi em sinh ra và lớn lên. Có bữa ra chợ cầu Ông Lãnh mua cá, gặp bà cụ đang trả giá. Khi nghe bà cụ kêu lên “me chay, mắc dữ be... e” làm em giật thót tim. Từ “be” thoạt nghe như tiếng than nhưng không phải là lời than thở mắc rẻ, mà còn hàm chứa sự ngạc nhiên, dò hỏi, một chút giễu cợt trong sự phân vân thường thấy ở các bà nội trợ phải lo toan hàng trăm thứ cho gia đình, chồng con... Gặp người đồng hương, em mừng quýnh. Một già một trẻ hỏi han, nhắc nhở đủ thứ chuyện bên ly nước mía đầu đường. Khi chia tay bà ấy còn dặn “bữa nào huỡn cháu ghé lại nhà bác chơi”. Chiếc xích lô chở bà cụ đi xa, nhưng quanh quẩn bên em vẫn cứ ong ong những từ “me chay, dẫy na...” như thể đang hít mùi thơm khói đốt đồng căng đầy lồng ngực với sự khám phá thiệt mới lạ hương khói xa xôi ấy...

Cứ để ý đi, khi nào anh ra bến xe bến tàu đón người thân, hễ thấy ai kè kè bên nách gói giấy tròn căng phồng, khổ bằng chiếc sàng thì chắc chắn đó là dân Phú Yên trăm phần trăm. Họ mang quà cho người thân đấy! Có nhiều thứ khác quý hơn, nhưng đi đâu họ cũng mang chồng bánh tráng, dường như đó là niềm tự hào của mọi người bất luận giàu nghèo, khi được sở hữu cánh đồng lúa mênh mông và phì nhiêu của Tuy Hòa, đã nuôi dưỡng họ, nuôi dưỡng cả một vùng rộng lớn chung quanh. Đó là biểu tượng của hột gạo trên một xứ sở từng chịu nhiều khổ đau, vất vả mà dân quê em đã từng nếm trải, khổ đau và hạnh phúc trong chiến tranh và hòa bình. Mà năm rồi em không mang vào cho anh chồng bánh tráng là gì? Khi nướng phồng lên thì là tình là nghĩa, khi nhúng nước cuốn là dẻo thơm niềm hạnh phúc tròn đầy đó anh ơi. Mẹ em nói vậy.

Ngày 15 tháng 5...

Anh thân yêu,

Thư hôm qua em quên một chi tiết về dòng sông chảy ngang qua thành phố. Cùng một dòng chảy nhưng có tới hai tên gọi khác nhau. Đoạn từ đập Đồng Cam ngược lên thượng nguồn, đâu tận Phú Bổn, Cheo Reo gọi sông Ba, còn xuôi về phía hạ lưu thì là Đà Rằng. Dầu sông Ba hay Đà Rằng gì đi nữa thì con sông này chỉ có một dòng chảy và như cái bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân trong huyền thuyết “đồng bào” của dân tộc. Mùa mưa, nước ơi là nước! Nước mênh mông như biển cả. Nước cuồn cuộn đổ ra biển, đỏ quạch phù sa. Nước gầm réo dưới chân cầu thiệt là hung hãn, cuốn trôi tất cả những gì trên đường chúng đi qua, tưởng chừng như chiếc cầu dài ngằn ngặt này cũng bị đẩy phăng ra biển trong phút chốc. Cũng may, sự hung hãn này chỉ diễn ra có vài bữa thôi và xem ra cũng có ích: nó mang lớp phù sa dày đặc bồi thêm lớp màu mỡ cho cánh đồng “thẳng cánh cò bay”.

Nhớ hồi năm 93, lúc đó em còn là đứa trẻ con. Mấy bữa trước mưa dầm dề như cầm chĩnh trút nước vậy. Đến đêm nước ở đâu bò vào khắp nơi, vào các đường phố, bò lên thềm, nhảy tọt vào nhà, dâng lên cao đuổi bọn em chạy lên gác. Đứng ở cầu thang nhìn xuống thấy nước tới đầu gối rồi bò lên tới thắt lưng, rướn lên tới gần ngực ba. Điện bị cắt, đèn đóm tối thui. Có tiếng người la ơi ới, tiếng gõ xoong nồi gọi nhau như chạy giặc. Đồ đạc chuyển từ tầng dưới lên cái được cái không, ướt ngoi ngóp. Sáng ra đứng trên balcon ngó ra đường, thôi thì nước là nước, chỉ có ghe sõng xuôi ngược khắp các ngả phố, còn xe lớn xe nhỏ mọi ngày như chìm mất đâu đó trong làn nước đục ngầu. Tụi trẻ con được dịp tắm lụt: chúng ở trần lội nước, chặt những đoạn chuối ngắn xiên cây làm bè chống ngang dọc khắp các nơi như thể chúng đang vào mùa hội đua bè, khiến em nghĩ thành phố bữa trước giờ là dòng sông mênh mông nước, nhà cửa phố phường mọc lên từ mặt hồ rộng. Đứa em trai em cũng nhập bọn, la hét cười đùa thỏa thích, coi mọi hư hại do trận lụt băng qua chỉ là chuyện bình thường. Tới chiều xẩm nước mới rút từ từ, để lại những vạt bùn dẻo quánh trên vách, trên nền nhà, lòng đường... Hôm sau một cái chợ mọc lên ở ngã Năm, ồn ào náo nhiệt như thể trận lụt vừa rồi chỉ là bữa tắm gội cho thành phố. Bọn em đi coi họp chợ rồi rủ nhau lên đầu phố đứng nhóng qua chiếc cầu dài coi chiếc cầu còn hay trôi mất ra biển. Nỗi lo sợ vu vơ không thành sự thật. Nó vẫn bình thản nối hai bờ nam bắc dù cho dòng nước cuồn cuộn kia chỉ cách mặt cầu đâu hơn hai gang tay! Vậy mà đến mùa khô, dòng nước lừ đừ như con trăn no mồi, lười biếng nép mình giữa hai bãi soi vàng rực bông mướp, bông bí, cỏ lông lan tận ra mép nước xa. Hồi mới bước chân vào trung học, tụi con trai lớp em thường hay rủ nhau ra soi hái trộm dưa. Chúng giả đò đi tắm. Bọn chúng tắm thiệt. Cả bọn vẫy vùng trong làn nước trong vắt, cạn tới ngang bụng nhưng kỳ thực là để quan sát những trái dưa hấu chôn lấp đâu đó dưới lớp cát sâu. Chỉ cần những cái liếc mắt như kiểu con chim bói cá là một đứa bò lên, kéo sợi dây, moi cát và bứt gọn trái dưa bự chảng, trong khi tụi kia vẫn cứ té nước, la hét ỏm tỏi. Tụi con gái bọn em chỉ dám thọc chân xuống mép sóng lăn tăn giỡn với làn nước mát lạnh. Những trái dưa ăn trộm ngon hơn là đi ăn đám giỗ, ruột đỏ mọng, ngọt lừ. Uở mà sao tự dưng lại đi nhắc chuyện “xấu hổ” này với anh hẻ?

Để em kể chuyện này chắc chắn là anh chưa biết, chưa từng nếm bao giờ: Hồi sáng này mẹ con em đi chợ. Mẹ kêu lâu cả nhà chưa ăn sứa. Vậy là mẹ thực hiện ngay. Anh ở đồng bằng thì làm gì biết con sứa? Nó là sinh vật sống ở biển. Toàn thân mềm và trong suốt. Mẹ mua toàn sứa chân mang về chần nước sôi, trộn với rau thơm, chuối chát xanh, đậu phộng rang, da heo xắt nhỏ, thêm chanh ớt xúc vào chén ăn với bánh tráng nướng bóp nát. Nó ngon không thể chê vào đâu được. Thịt sứa mát lạnh, dòn dưới chân răng, thơm mùi rau húng đứng, húng duỗi và đậu phộng. Ăn tới no mà không thấy ớn, vì không có mỡ như cá tra, cá ba sa trong quê anh. Khi nào anh là thành viên chính thức trong gia đình, hẳn mẹ em sẽ đãi anh món này trước tiên. Anh ăn một lần sẽ nhớ đời. Mà biết đâu sau khi ăn anh sẽ bỏ xứ mà ra làm con dân trên mảnh đất hai mùa đầy những mưa cùng nắng này?

Nói đến chuyện ăn uống thì Tuy Hòa của em có nhiều món lạ lắm. Tỉ như món cá thài bai nấu cháo đậu cút thì cả nước này và cả trên thế giới không đâu có cá thài bai. Nó nhỏ bằng cọng tăm. Người ta bán không phải cân ký, đếm con mà lật ngược cái chén lên, đong bằng khu chén để tính tiền. Giá trị là ở chỗ đó. Chỉ cần ba khu chén cá thài bai nấu cháo đậu cút là ngọt lừ, thơm, mát, bổ... Mẹ em nói cháo cá thài bai nấu đậu cút tàu dành cho người ốm mới dậy ăn sẽ mau phục hồi sức khỏe. Loại cá này hiếm nên rất quý. Mỗi năm chỉ xuất hiện một lần khoảng nửa tháng trước và sau Tết âm lịch. Đám cá mẹ xuống tận cửa biển đẻ trứng. Nở ra, tự kiếm ăn được thì chúng bơi ngược dòng sông lên thượng nguồn, nên người ta dùng những tấm đăng nhỏ, tạo dòng chảy sát mép bờ cát để lũ thài bài nương theo đó mà vượt lên, phía trên có chiếc đó dày chặn lại bắt kỳ hết. Con nhỏ Nghi giỏi môn sinh vật kêu thài bai là thài bai chớ không phải là cá bống con như tụi em nghĩ. Cãi với nó mấy bận không thắng đành thôi, miễn sao loại cá này đừng mất để thỉnh thoảng còn được ăn: kho tiêu, làm chả ram những năm được mùa cá.

Toàn nói chuyện ăn chắc làm anh mệt? Giờ chuyển sang đề tài khác: nói về thành phố của em, anh nhẻ?

Thành phố bây giờ đã khác nhiều. Chẳng trách hồi em mới lững chững tập đi, mẹ kể thành phố chỉ toàn gai bàn chải, xương rồng và cồn cát. Trường Nguyễn Huệ hồi ba mẹ em học nằm lọt thỏm giữa rừng gai bàn chải lởm chởm. Nay anh có ra đi tìm gai bàn chải trong thành phố làm thuốc cũng không còn. Những cây gai lởm chởm nhọn hoắc kia giờ đã là những ngôi nhà cao tầng, biệt thự, xưởng máy và vô số những thứ khác mang dáng dấp hiện đại hơn, gần gũi với thời đại tên lửa, internet hơn. Nó cũng hối hả, nhộn nhịp như một góc nhỏ Sài Gòn chẳng kém.

Em thì mong cho thành phố to hơn, giàu hơn, mọi người dân có đời sống sung túc hơn, nhưng đồng thời em muốn những hình ảnh, nếp cũ của Tuy Hòa xưa vẫn luôn được tồn tại trong góc khuất nào đó của đời sống tinh thần, như ba em hay kể chuyện hồi nhỏ ông và đám bạn hay rủ nhau lên núi Nhạn giành chuối giành chè với lũ khỉ núi và đánh nhau với chúng ngay trước am thờ thần gần cửa tháp, kể về những cuộc hẹn hò với mẹ em trên bãi soi sáng rực bông mướp vàng đầy ắp giọng hò khoan của những nông dân cắt cỏ bò bên mép nước sông Đà Rằng. Hồi đó chắc khổ hơn bây giờ, nhưng lãng mạn. Con người lãng mạn để thành phố cũng trở nên lãng mạn, thơ mộng hơn. Còn thế hệ của bọn mình, sự lãng mạn ấy đã được cách tân hóa bằng cách chui đầu vào các quán cà phê tối om, các sàn nhảy nêm cứng người cùng tiếng nhạc phát ra ầm ầm như động đất!

Sẽ có người cho rằng em có những ý nghĩ cổ hũ, ích kỷ. Mược

ợơ kệ. Em yêu cái cổ hủ, ích kỷ ấy lắm lắm.

Ước chi bữa đó em đừng trả lại một chiếc vé để anh thấy tận mắt thành phố quê mùa này, em khỏi cà kê...”.

Bức thư chấm dứt đột ngột, dài hơn 10 trang, viết trên giấy pelure gập đôi, bằng màu mực xanh bút bi kẹp trong cuốn sách Phong Lưu Cũ Mới của cụ Vương Hồng Sển tôi mua lại trong tiệm sách cũ ở Bình Thạnh. Chỉ chừng ấy, không có chữ ký, không có tên người gửi, người nhận; chỉ xưng hô anh em, kể về thành phố Tuy Hòa bằng niềm thương nhớ, tự hào. Không rõ khi nhận thư, anh chàng đã lơ đễnh bỏ quên trong quyển sách cũ, hay cô nàng chưa kịp gửi tới tay người yêu? Tôi không quan tâm chuyện tại sao bức thư kia được kẹp trong cuốn sách, tại sao cuốn sách có bức thư đó lại ra nằm ngoài tiệm bán sách cũ. Và vợ tôi thì cứ khăng khăng đó là trang nhật ký của cô bé đang tuổi mộng mơ. Còn tôi thì nhất định đó là lá thư chứ nếu là nhật ký thì chẳng ai ngồi viết trên những tờ giấy mỏng dính? Trong thư không thấy bày tỏ lời yêu thương, nhưng quặn thắt nỗi nhớ nhung cũ mới chồng lên nhau.

Tôi vẫn giữ lá thư một cách cẩn thận và cầu mong cho hai người luôn bên nhau và tràn đầy hạnh phúc như những lời bày tỏ chân tình trong lá thư kia. Tôi cũng mong được hoàn trả lại nếu như các chủ nhân của nó là “em” và “anh” nhận biết được tung tích bức thư được cất trong chiếc hộp, khóa chặt trong tủ kính.

NLU.

nguồn @ thời văn số 7