Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2007

VŨ HY TRIỆU

VŨ HY TRIỆU


Trích từ tập thơ: NHÀ CÓ MẢNG TƯỜNG HOA

Nxb: Văn nghệ sắp xuất bản

thơ

TƯỞNG CHỪNG CA DAO


yêu nhau đã mấy mùa thu

thôi đừng như lá cuốn mù mịt xa

yêu nhau đã mấy mùa hoa

tàn hương một đóa xót xa cũng đành

thà rằng như con chim xanh

hót mây hót gió trên cành hư không

yêu nhau đã mấy mùa đông

tình như sương khói chạnh lòng không em?

gió đưa lá rụng bên thềm

tiếc chi một thuở còn mềm môi nhau।


NGÀY CÓ CON TRÊN ĐỜI

Cho con gái Nhật Hạ

mẹ sinh con một ngày đầu hạ

con có mặt trên đời làm ấm dịu lòng ba

ba chẳng có gì cho con - mừng tiếng khóc oa oa

và vòng tay ngày đầu tiên đón con vào cuộc sống

mẹ sẽ cho con ngọt ngào dòng sữa nóng

êm mát lời ru chảy suốt tuổi thơ con

ấm áp tình thương chiu chắt tháng năm tròn

cùng khát vọng - niềm tin nuôi con khôn lớn

ba muốn con hãy là chồi non mơn mởn

sống thật hồn nhiên giữa đất rộng trời cao

và mỗi khi đất trời nổi cơn giông bão

cũng đừng lo - ba mẹ là bóng cả chở che

ba muốn con như vầng trăng sáng đêm hè

trong trẻo giữa trời xanh đầy gió lộng

ba tin con giữa bộn bề cuộc sưëng

sẽ thật thà không gian dối tính toan

ba muốn con là ngọn gió hiền ngoan

thổi mát đời ba - vuốt ve đời mẹ

và những tháng năm một thời con thơ trẻ

đầy ấp tiếng cười và tràn ngập niềm vui।


GIỌT BUỒN


em đi

từ độ đông tàn

từ trăng chếch bóng

từ ngàn tịch liêu

từ trong

sâu thẳm một chiều

ngẩn ngơ

từng giọt

buồn-thiu-thắt-buồn।


NÓI VỚI VỢ HIỀN

Em – vầng trăng của riêng anh

giữa trời đêm sáng long lanh - ấm lòng

những ngày hương lửa mặn nồng

cảm ơn em rạng tấm lòng sắt son

yêu chồng - đau đáu thương con

gió lay mặc gió - đầu non xanh ngời।


VỐN LÀ HỒN NHIÊN

Tặng anh Nguyễn Bắc Sơn


ta nói rằng ta anh hùng

sao mi lại bảo ta khùng ta điên

thưa rằng trong cõi vô biên

mắc gì ta phải hồn nhiên, vốn là...

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2007

NGUYỄN ĐĂNG TRÌNH


NGUYỄN ĐĂNG TRÌNH

chỉ để nhắc em chơi



Nhiều khi thèm nghe cái tiếng lá quen

Vui vui dốc mòn xưa ta sánh bước

Tiếng lá bây giờ không như thuở trước

Dẫu đêm ngày vẫn loáng thoáng bên tai

Dốc cũ ngày đêm tôi vẫn miệt mài

Bước tới bước lui hỏi từng viên sỏi

Vì lẽ gì không dưng em bỏ lại

Mối tình đầu trầm quế ấy mà đi

Vội vàng chi em chẳng nói năng gì

Để bao năm tôi nằm bên giấc ngủ

Ngong ngóng mãi một trái tình cuối vụ

Sưởi thầm đời qua ngày hạ tháng đông

Gom hết yêu thương thả xuống dòng sông

Một ngày kia hóa thân vừng mây lạ

Bay khắp bầu trời làm cơn mưa đá

Rắc đẫm quanh em nỗi nhớ run người

Chẳng làm gì chỉ để nhắc em chơi

Rằng chốn quê nhà hãy còn gã ngốc

Vẫn chăm chỉ gùi nỗi đau ngược dốc

Lưng muốn còng mà hồn vẫn xanh thơ...


điển tích cây si



Tôi lễnh mễnh theo em từng buổi chợ

Nắng xuân vàng phơi lụa quãng đường quê

Quai nón tím dịu dàng trêu nghịch gió

Mắc mớ gì mà em cứ vân vê?

Mới lần đầu cùng con trai chung lối

Em bước dài bước ngắn thấy mà thương

Và phía sau tôi gượm hoài câu hỏi

Nhỏ gì ơi nhà nhỏ có xa không?...

Đơn giản thế mà mở mồm không được

Đôi ba lần đánh bạo cũng chào thua

Kinh tỏ tình ngàn câu tôi tụng thuộc

Đến khi cần gọi mãi chẳng buồn thưa!

Đường dẫu xa đi hoài rồi cũng hết

Em lẹ làng lách cổng biến vào sân

Tôi quay gót cõng nỗi buồn da diết

Nghe chân mình mỗi bước nặng ngàn cân!

Thất thểu đón bao ngày sau buổi chợ

Em không về có nghĩa đã không đi

Bên vệ đường sớm chiều tôi xớ rớ

Hạt tình thầm rụng xuống mọc cây si!...


đòi lại cuộc tình


Xa nhau nửa đời gặp lại

Về nhà tôi lén soi gương

Đâu rồi thằng Trình dại gái

Thầm mê nhỏ bạn cùng trường

Tôi khác tôi ngày xưa lắm

Râu ria sợi trắng đã nhiều

Không như hồi năm mười tám

Theo sau ai tập tò yêu

Không ngờ em còn xinh quá

Tóc nào vẫn nửa lưng buông

Một hai tôi đòi em trả

Cuộc tình giấu phía sau gương...

ndt

*hành hương về phía nhớ*


Thứ Ba, 31 tháng 7, 2007

HOÀNG THỊ THIỀU ANH

HOÀNG THỊ THIỀU ANH



MỘT NGÀY LÃNG DU

Trời hôm nay trở gió. Buổi sáng mát lạnh, trong lành đến sảng khoái. Tôi hít một hơi thật sâu trươc khi dắt xe ra ngoài. Có một điều gì đấy thật đặc biệt đang ngự trị trong tôi mà tôi chưa thể hình dung ra.Hình như là một dấu hiệu của sự khoan khoái hay là một cái gì đại loại như thế… bầu trời hôm nay trong trẻo đến kì lạ, những giọt sương mai như còn long lanh lúng liếng đưa tình với cỏ lá trước khi rời bỏ xác thân hóa giải về cõi vô thường, chị gió có vẻ như một triết gia suy tư lưỡng lự bên cạnh những viên ngọc trời đêm qua ban tặng cành lá. Sự điểm tô này không chỉ đẹp mà còn lộng lẫy đến không ngờ.

Tôi chạy xe đến càfe Sơn lúc trời ầng ậng sương mai trong gió. Chẳng thấy ai quen ngoài anh Sơn. Đã hẹn với nhau hôm nay đi về Lựu Bảo chơi cơ mà? Không ai đi cả ư? Họ sợ điều gì? Những điều tôi đã nói đùa cho vui…? Tôi cũng không biết nữa, buồn buồn tôi chạy xe đi một mình vậy. Con đường hôm nay như dài thêm ra vì cảm giác cô độc, một mình trên đường lộ đang còn vắng vẻ. Mặc kệ. Tôi cứ đi.

Cây xanh hai bên đường Lê Duẩn đã vươn vai tỉnh giấc tự lúc nào. Nắng đã vờn các nhành cây bãi cỏ. Bất chợt trông lên tàng phượng già tôi như hét to lên khi cả một dãy hoa muồng bò cạp vàng rộm leo uốn quanh cành phượng cố vươn nhoài người chào đón tôi. Tôi dừng ngay xe lại và ngước nhìn. Ôi chao! Còn có cảnh sắc nào đẹp hơn thế này không? Màu đỏ rực rỡ của hoa phượng hòa chan đan quyện với màu vàng non tươi mơn mởn của hoa muồng nổi lên trên bề mặt bầu trời ban sớm xanh leo lẻo nghe như cả một trời nhan sắc tập trung lại chốn này, điểm tô cho chốn này…Hôm nay thiên nhiên quá ưu ái cho tôi chăng? Hay đang cố bù đắp những hẫng hụt tôi đang mang trong lòng? Tôi nhớ như in lần sinh nhật tôi tròn16 tuổi 2 thằng bạn thân đã ăn trộm cho tôi không biết bao nhiêu là chùm vàng ươm ướp về trang trí phòng sinh nhật tôi. Lần ấy chúng bị ong đốt sưng vù mày mặt. Lại bị thêm mấy chú bảo vệ cây xanh rượt chạy té khói.Chúng tôi gọi nó là pháo vàng vì màu sắc của nó rực rỡ không kém gì màu xác pháo, hơn nữa lần ấy 2 đứa te tua hơn cả xác pháo bông…cũng thấy vô lí nhưng ai hiểu nổi chúng tôi lúc ấy…ưa chi nói nấy.Và đúng vào giờ khắc này kỉ niệm xưa ùa về ngập kín tâm can. Tôi đã thấy vui hơn lúc đầu mới bước đi.

Rồi tôi cũng đến nơi dù chỉ một mình. Anh bạn chở tôi đến thì buổi lễ đúc chuông đã kết thúc xong và bắt đầu những sinh hoạt của hội chợ quê. Tôi đươc nhân một tờ giấy ăn bún chả giò nhưng tôi không dám hay nói cho đúng hơn là tôi không thích…dù trong bụng đói meo. Tôi đi quanh một vòng xem những thứ thô sơ những nông cụ tưởng như vô nghĩa nhưng đã gắn rất chặt với đời sống người nông dân thưở trước. Tôi thật sự xúc động bởi ý nghĩa lớn lao của những nông cụ cổ lổ sĩ ấy. Ông cha ta ngày xưa giỏi thật! Tôi như chìm đắm trong dòng hồi tưởng thì tiếng í ới gọi nhau của những tín đồ làm tôi giật mình.Anh bạn phì cười vì sự ngơ ngác ấy của tôi. Chúng tôi lại đi sang những chỗ triển lãm khác. Một khu bếp soong nồi niêu chảo tô đọi chén đũa…tất cả như in hết vào trí não tôi những nét văn hóa độc đáo của làng quê Việt Nam. Những lúc ấy tôi chưa ra đời, tôi chưa thể cảm nhận hết thảy những gì to tát của quá khứ tinh hoa dân tộc nhưng tôi tin chắc rằng nếu ai đó chưa từng nhìn thấy được những gí tôi thấy lúc này thì hẳn sẽ khó hình dung được cuộc sống nhà nông ngày xưa như thế nào? Dù cảm nhận của tôi chỉ là những cảm nhận thức thời và mang tính chủ quan. Tôi thật sự thấy vui vì chuyên đi của mình không vô ích tí nào. Tôi mường tượng ra cảnh tát nước, đơm cá, cảnh đem nước về ruộng, nấu ăn, sinh hoạt… có lẽ cuộc sống ngày xưa không tẻ nhạt như bây giờ. Bởi con người tự làm, tự ăn. Họ phải đầu tắt mặt tối mới có miếng cơm, manh áo…bây giờ con người dùng tiền để mua…tất cả…thậm chí cả sức lao động tưởng như vô giá. Và thời gian của họ là những cuộc mua vui bên những chai bia rượu ngoại va những lời chúc tụng…

Chúng tôi đi quanh một vòng nhà thờ rồi ra về. Anh bạn chở tôi ghé thăm một người bạn khác hơi kì quặc. Đi vào khu vườn mang đậm dấu ấn của thiền môn. Lại một lần nữa tôi như say trong cảnh vật nơi đây. Bàn đá, cỏ cây, hoa lá, thư pháp chim chóc, ong bướm…và một ấm trà thơm phức. Diện kiến với một nhân vật ẩn dật từ bỏ cõi ta bà về nhà tu…vui cùng thiên nhiên đấtt trời…lòng tôi như lặng đi trươc những sắc sắc không không của đời người. Tôi không nói nổi lời nào bởi tôi quá tầm thường trước đồng loại.Tôi! cái bản ngã còn quá lớn! và trước con người ấy tôi chỉ biết im lặng –lắng nghe –cảm nhận –và tự rút ra cho mình những bài học đường đời…Lắng trong cái chát ngọt của vị trà tôi nghe tiếng chim hót, gió khua lao xao, lá cây xạc xào…trăm ngàn âm thanh hư thực. Tại sao tôi cô độc lặng lẽ thế này?

Vì tôi thôi! Cô độc hay không đều do sự đánh lừa của cảm giác! Tôi nhấp một ngụm rượu đế và để yên như thế… cay…nồng…đắng…ngọt…rồi nhìn anh bạn gật gù gậm nhấm hơi men .

Hôm nay tôi mới nghiệm ra được chân lí của sự sống đích thực. Chỉ khi nào tôi tìm đươc sự thanh thản trong tâm hồn trước những tâm thường của cuộc sống thì cuộc sống mới cho tôi sự bình yên.Và tôi yêu người. Và tôi yêu cuộc sống này!

Htta.2007

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2007

TRƯƠNG THỊ KIM CHI


TRƯƠNG THỊ KIM CHI


HAI LẦN THỨC GIẤC

Vòng xoay dày đặc, có chỗ bị tắc nghẽn vài phút.

“Rầm!”. Một chiếc xe đạp chạy sát cạnh Quỳnh, tự va vào xe Quỳnh và tự ngã. Những chiếc xe vây quanh né ra. Cô bé nhanh nhẹn đứng dậy. Quỳnh buộc phải trôi theo hết dòng chảy của vòng xoay rồi mới tấp được vào lề, ngoái nhìn lại. Muộn rồi! Cô bé, có lẽ là một sinh viên nghèo, đã mất hút. Quỳnh lại chậm! Sơn từng nhận xét: “Mầy có trái tim mẫn cảm nhưng khối óc và hành động chậm rì”. Quỳnh ngẩn ngơ ân hận. Lẽ ra Quỳnh đã làm được một cái gì đó cho cô bé.

Hình ảnh của Quỳnh vào buổi trưa đã xa chợt hiện về. Một chiếc xe con sang trọng từ trong hẻm lao ra, Quỳnh lăn xuống lề đường. Cô gái lái chiếc xe con đó có lẽ trạc tuổi Quỳnh, miệng vẫn thản nhiên nhóp nhép nhai kẹo cao su, mặt lạnh lùng, tỉnh bơ ngồi ôm vô-lăng dòm Quỳnh lòm còm bò dậy. Nó sai luật! Mặc kệ nó! Quỳnh đã đứng dậy được và chuẩn bị đi. Ngay lúc ấy, Sơn thò tay vào túm tóc cô gái kia, bắt ra xin lỗi Quỳnh. Cô chiêu đành khuất phục trước đôi mắt tóe lửa của Sơn. Sơn đến phủi quần áo cho Quỳnh, lớn giọng mắng Quỳnh sao quá hiền để người ta ăn hiếp, rằng không biết nhìn kẻ đối diện mà xử sự. “Với cái ngữ kia mà đưa mặt ra là nó tát đủ hai má đến nổ đom đóm đấy ngốc ạ!”. Sau này Quỳnh được biết, Sơn có mấy ngón võ cổ truyền cùng với tính khí thẳng thắn, khẳng khái, gặp chuyện bất bình dễ gì bỏ qua! Rồi Sơn trở thành bạn thân nhất của Quỳnh, hễ có chuyện vui buồn, nhất là những chuyện nan giải, cô đều nhờ Sơn. Sơn luôn giúp cô tìm được đáp số cho những bài toán rất hóc búa của cuộc đời một cách thông minh và tuyệt vời nhất.

Chiều cuối đông xuống nhanh. Trên bầu trời xám tro, một mảng mây không rõ hình thù đang tím sẫm lại, u buồn, tuyệt vọng. Không khí se lạnh. Vẫn trôi giữa dòng người ken dày vội vã tất bật, Quỳnh cảm thấy mình lạc lõng bơ vơ, cô đơn yếu ớt, sắp kiệt sức bởi gánh nặng khổ đau cùng cực. Một cái gì quý giá nhất dường như sắp tan vỡ. Quỳnh đã đi qua đoạn đường chưa dài nhưng không phải ngắn của đời người và đã lầm lạc ư? Quỳnh sắp rẽ sang lối khác và có còn lầm lạc? Eden còn xa lắm? Hay tại cô vốn chậm chạp? Hơn một năm rồi cô vẫn chưa giải quyết cho ra đầu ra đũa, cứ nhập nhằng mãi. Nhưng trong việc này Sơn lại bảo, đôi khi cái chậm cũng có cái hay của nó. Chậm một giây có thể thoát hiểm vì tai nạn vừa xảy ra trước đó một giây. Quỳnh còn sức chiụ đựng được bao lâu nữa? Sơn trấn an, còn thở là còn sức chịu đựng, đó là bản năng, là thuộc tính của con người. Cả năm nay Quỳnh tiều tụy héo hon. Sơn ngậm ngùi, mầy bớt ghen chút đi. Không, tao không thèm ghen, tao chỉ đau đớn vì bị xúc phạm. Một cách nói kiêu ngạo về ghen đó ngốc ơi, mầy còn ghen có nghĩa là còn yêu, ghen càng dữ yêu càng tợn. Ừ, có lẽ Sơn nói đúng, mình vẫn không thôi nghĩ về Đạt. Trời ơi, Đạt là gì, là bóng râm trên con đường trưa nắng, là chốn bình yên trước những bất trắc của cuộc đời hay là tảng đá khổng lồ trên chiếc lưng nhỏ nhắn mỏng manh của Quỳnh? Sao nhiều ngã ba ngã tư, nhiều khúc quanh khúc quẹo? Lòng đang u ám mỏi mệt và rối như tơ vò, Quỳnh càng thêm bực bội. Càng bực bội càng nhầm đường.

Rồi cũng đến Eden! Một nhà hàng kiểu sân vườn khá lịch sự! Quỳnh ngơ ngác lúng túng, bán tín bán nghi bên bức tượng thạch cao đặt ngay lối vào: Người đàn bà đang đưa trái táo tận miệng người đàn ông. Ánh mắt háo hức say sưa và nét môi dưới trễ xuống thèm thuồng của người đàn ông làm Quỳnh chú ý. Sơn chạy ra kéo Quỳnh vào cái bàn trong góc kín đáo nhất, khuất sau ba cây cau kiểng đang trổ buồng, chụm gốc nhau trong cái chậu vuông to tướng.

“?ừng dòm láo liêng coi quê cả cục, thiên hạ cười cho! Ăn gì?”. Quỳnh hờ hững: “Gì cũng được! Không quan trọng”. “Chuột đồng nướng trui nghen!”. “Đừng đùa, Sơn à!”. Quỳnh đưa tay lên cổ, kéo một cái gì đó xuống. Sơn cười hề hề, lôi trong túi xách ra chai rượu, dài giọng: “Ông anh ở Mỹ về cho, Rémy Martin đàng hoàng à nhen! Ổng mua trên máy bay. Bảo đảm thứ thiệt năm phần trăm! Hay ăn dồi chó? Tranh thủ ăn kẻo chết xuống âm phủ biết có hay không mầy ơi”. Quỳnh uể oải: “Thôi mà Sơn!”.

Một bức tranh lớn trên mảng tường trước mặt vừa ngang tầm mắt Quỳnh: Bên ngoài trời đang bão tuyết dữ dội thì trong cái tổ rơm ấm áp nằm sâu trong một hốc cây, con chim mẹ đang mớm mồi cho hai chú chim con, hai cái mỏ há to hết cỡ. Quỳnh lặng người, bất động vì cảm xúc. Cảnh vật xung quanh thoáng phủ sương. Bức tranh như tỏa hơi ấm, toát lên điều bí mật đầy quyến rũ khó lòng lý giải trong giây lát. Hình ảnh Đạt xa lạ hiện ra rồi tan biến trong khoảnh khắc, tựa ảo ảnh. Phải, cầu mong sao Đạt chỉ là ảo ảnh. Bởi lòng tự trọng của Quỳnh đã bị tổn thương nặng nề. Bởi vết thương càng ngày càng bị Quỳnh tự khoét vào, nhức nhối. Chiếc thuyền vẫn tròng trành giữa biển khơi trong cơn sóng gió. Quỳnh phải gồng mình giữ thăng bằng để khỏi ngã. “Mình muốn ly dị”. “Hừm, từ từ đã, mới an tọa nói chuyện đó mất vui”. “Nhưng mình cần gặp Sơn không phải để nhậu... mà chỉ uống rượu để giải sầu”. Giọng Quỳnh tha thiết: “Mình muốn ly dị. Dù sao mình cũng muốn Sơn nói với mình cái gì đó”. Sơn tựa cằm trên đôi bàn tay đan vào nhau, giọng ỡm ờ khó hiểu: “Ờ! Ly dị! Cũng hay đấy. Nhưng thằng Ty, mầy tính sao?”. “Đương nhiên nó ở với mình!”. “Hai mẹ con mầy trong ngôi nhà thênh thang đó! Thế mầy đã hình dung ra cuộc sống thiếu Đạt chưa?”. “Rồi!”. “Mầy đã suy nghĩ kỹ?”. “Rất!”. “Rồi mầy sẽ ở vậy suốt đời?”. “Ừ!”. Chiếc thuyền bỗng chao đảo dữ dội, có vẻ như đã mất phương hướng giữa mù khơi. Quỳnh bíu chặt hai tay vào mạn thuyền. Căng mắt. Chờ đợi. Nước biển mặn chát. Cô mím chặt môi. Số phận của nó đang nằm trong tay cô. Không dưng cô thấy sợ khi vừa thốt tiếng “Ừ”. Cảm giác như đang đứng ở trên độ cao ngút mắt nhìn xuống vực sâu, nghe người chới với, rợn ngợp, choáng váng, hụt hẫng.

Sơn xoay xoay ly rượu trên tay, rồi ngửa cổ dốc tuột vào miệng. Quỳnh bắt chước. Lần đầu tiên Quỳnh nếm chất cay này. Hơi ấm dồn lên mặt. Người cô bỗng nhẹ tênh, muốn bay lên... Bay lên... A ha! Cuộc đời chỉ là một sân khấu, ta chỉ là một vai diễn, lại là một vai quần chúng mờ nhạt thoáng qua trong vài giây, vậy có gì quan trọng mà sao cứ phải lựa chọn, đắn đo? Mà sao cứ mãi quẩn quanh trong những đường biên ước lệ chật hẹp? Nhọc nhằn quá đỗi! Mỏi mệt quá chừng! Sức mạnh nổi loạn tiềm ẩn đâu đó giờ trào dâng, cuồng nộ dữ dội làm mắt Quỳnh sáng rực. Sơn rót đầy cả hai ly, điệu nghệ: “Bữa nay tụi mình say thử hè!”. “ OK!”. “Say cho biết thế nào là say. Say coi sướng cỡ nào mà mấy ổng lại khoái say”. “OK”. “Mầy còn nhớ phim Tề Thiên Đại Thánh?”. Quỳnh bực mình gắt: “Mắc gì có Tề Thiên ở đây?”. “Bình tĩnh nào. Thư giãn vài phút trước khi trở lại điểm nóng. Mầy còn nhớ khúc cuối bộ phim? Lúc thầy trò họ đã thỉnh được kinh?”. “Nhảm nhí! Mới uống chút đã say!”. “Đừng quá khinh địch à nhen! Hết chai nầy tao còn chưa say nữa là... Mầy nhớ cảnh kinh bị ướt. Thầy trò họ hè nhau phơi. Cơn gió to thổi tới. Kinh bay tứ tung. Họ táo tác chạy đi thu gom? Mầy còn nhớ một tờ kinh bị mất, không tìm lại được? Mầy còn nhớ vẻ mặt rầu rĩ thảm thương của Tam Tạng? Và... con khỉ kia đã triết lý như thế nào không?”. Quỳnh nổi nóng: “Bỏ qua con khỉ đó đi. Bữa nay mình gặp Sơn không phải để nói chuyện vớ vẩn”. “Hổng dám vớ vẩn đâu! Thầy ơi, cõi đời này đã hoàn hảo đâu mà thầy đòi bộ kinh hoàn hảo! Nhưng thôi, không khoái chuyện đó thì chuyện khác vậy. Mầy biết Thượng đế dựng nên loài người như thế nào không? Ngài tạo Adam trước rồi mới tạo Eva...”.

Lạy Chúa! Bữa nay Sơn làm sao ấy. Khi không đem chuyện cái thuở hồng hoang mịt mùng ra đây! Nếu có cây bút thử điện trong túi, Quỳnh sẽ đặt lên đầu Sơn, hẳn đỏ rực. “Mình xin Sơn! Vào việc đi!”. “Coi kìa!”. Quỳnh nhìn theo hướng tay của Sơn, một cặp nam nữ ngồi tình tứ bên nhau dưới tán cây tròn kiểu cách xinh xắn. “Có gì đâu?”. “Có chứ, mầy thấy Adam mặt mày gồ ghề vụng về vô tư, trong khi Eva thanh tú mềm mại khéo léo. Biết sao không? Bởi lần đầu tiên Thượng đế nặn Adam, ngài chưa có kinh nghiệm, hoặc có thể sơ ý quên đẽo gọt nắn nót trau chuốt điểm tô nên mới ra làm vậy. Tội nghiệp Adam! Còn Eva quả là một tuyệt tác! Nhưng bù lại chỉ là cái xương sườn nên mỏng manh, yếu ớt...”. Quỳnh năn nỉ: “Nói chuyện mình đi Sơn!”. Sơn lại rót rượu, bộ tịch giống hệt tay bợm nhậu chính hiệu, lè nhè: “Uống đi đã. Nè cụng ly! Nhưng xét cho cùng Adam cũng đáng thương, bị Eva dụ khị. Hậu duệ của cụ Adam cũng chẳng hơn gì, chàng Từ Hải đáng mặt anh hùng lắm chứ, đầu đội trời chân đạp đất vậy mà khờ khạo nghe lời em Kiều để chết đứng oan khiên! À, mầy ráng ăn cho no vào để lấy sức ly dị. Bữa nay mầy tiều tụy quá. Chà, cua mới lột vỏ ngon tuyệt! Ừ, ly dị quách cho xong chuyện. Thằng chả của tao còn lơ mơ, tao cũng ly dị luôn, tụi mình ở với nhau cho êm chuyện. Hi hi... nói giỡn cho vui, chứ tụi mình cùng một cực, đẩy ra ngay lập tức!”.

“Sơn ơi, bồ say rồi!”. “Nghe đã! Lát nữa tao sẽ hỏi số điện thoại nhà của tất cả những tên đàn ông trong quán này. Không những thế, tao còn đi khắp thành phố, tìm số điện thoại nhà của hết thảy bọn đàn ông đang ngồi trong các nơi ăn chơi đàn đúm. Để làm gì? Mầy ngốc thật, để gọi vợ họ, bảo những bà vợ ấy ly dị tất... Mầy ngồi xuống đi! Nào cụng ly... cụng ly chúc mừng những người vợ sẽ ly dị chồng!”. Sơn bỗng cất cao giọng: “Ước gì tất cả bọn đàn ông nhậu nhẹt đều bị vợ bỏ! Ước gì bọn đàn ông làm oai làm tướng trong nhà đều bị vợ bỏ! Và ước gì bọn đàn ông lăng nhăng đều bị vợ bỏ! Ôi cái bọn đàn ông! Chúc mừng những người vợ thoát được chồng! Chúc mừng!”. Quỳnh dằn dỗi: “Bồ say quá rồi!”. Sơn la to: “Hổng dám say đâu, vài ly rượu này nhằm nhò gì!”. Sơn lại rót, lại uống. “À, nói chuyện ly dị, tao chợt nhớ chuyện tao. Tao cũng đã từng viết đơn ly dị chứ bộ! Chuyện là vầy. Đêm đó, tao bị thức giấc hai lần! Chuyện tao vẫn giấu kín tự đáy lòng, nói ra dị hợm lắm, nhưng giờ tao kể hết cho mầy nghe. Rót nữa đi cưng, chà, đúng là tửu nhập ngôn xuất. Đêm đó, tao thức giấc hai lần. Ừ, thì tao biết mầy đang buồn, đang đứng trước vấn đề nghiêm trọng, cần lời khuyên của tao, nhưng từ từ nghe tao nói đã...

Lần thứ nhất, khoảng nửa đêm. Đang ngủ, chả ú ớ rồi nói ngay bên lỗ tai tao, rành rọt: “Nga ơi, anh chỉ yêu có mỗi mình em thôi! Trái tim anh chỉ có mỗi mình em!”. Tao giật bắn người! Mầy không tin ư? Nhưng trước khi tới điểm nóng, phải công nhận thằng chả sến dễ sợ! -Sơn đãi giọng ra, nhão nhoẹt- Trái tim anh chỉ có mỗi mình em! Hi hi! Người ta có thể tin mặt trời mọc đằng tây và lặn đằng đông, chứ làm sao tin được đức ông chồng của tao léng téng, phải không? Vậy mà... Hi hi... Mầy làm gì vậy, rót đi chứ. Bữa nay hai đứa mình chơi hết chai rượu này hén! Tao đập chả dậy. Chả ậm ừ rồi ngủ tiếp. Tao phải bấm huyệt nách chả, phải tung chưởng tới tấp, chả mới tỉnh. Ban đầu chả chối leo lẻo. Sau tao làm dữ quá, chả đành thú nhận, rằng Nga là mối tình đầu của chả, nhưng giờ ai đã có phận nấy. Chả biện hộ gần đây sao đầu óc chả hay nhớ lại chuyện xưa, nói năng lung tung, đừng chấp. Tao giả vờ đón đầu đón đuôi đón xuôi đón ngược. Ai ngờ chả khai tuốt, chả và Nga đã có một đứa con, lớn hơn bé Ngọc Hà hai tuổi, gởi xuống bà dì Nga tận Rạch Giá nuôi hộ! Chuyện tưởng chỉ xảy ra trong phim trong truyện, ai ngờ ngay trong nhà mình. Chả quỳ xuống lạy tao, xin tao tha thứ. Tao như đang nằm mơ, một tay cầm đơn ly hôn, một tay cầm con dao...

Chả không chịu ký. Tao chĩa mũi dao vào ngực tao. Chả cầm bút, vừa khóc vừa ngâm thơ. Thơ gì hả? Hèm! Để nhớ coi! “Ai cũng có một thời để yêu và một thời để nhớ. Ai cũng có những phút giây ngoài chồng ngoài vợ. Đừng trách chi những phút xao lòng”. Tao ngâm hay ra phết đấy chứ. Mầy cũng biết bài thơ này? Nhưng khi chả ký, tao bỗng nổi khùng, tặng hai nắm đấm thôi sơn vào ngực chả làm kỷ niệm trước khi giường ai nấy ngủ. Tao điên tiết xách gối qua phòng bé Hà. Ôi chao, rượu ngon hết biết mầy ơi, đúng là rượu ngoại. À, tao nuốt luôn mấy viên thuốc ngủ vào. Nhưng tao chỉ mơ mơ màng màng chứ không tài nào ngủ say được! Ừ, thì tao hơi bị kỳ, tới đây để nghe mầy tâm sự, ai dè ngứa miệng lại đi tâm sự với mầy. Thôi, mầy chịu khó nghe tao, lát tao lại chiụ khó nghe mầy!

Gần sáng, tao giật mình dậy. Trời mưa to. Sấm sét ầm ĩ. Bé Hà vẫn ngủ say. Tao sợ quá, nhét hai ngón tay vào lỗ tai. Bỗng ánh sáng chớp lòe, sáng lòa. Và... Và, tao thấy rõ ràng... mầy ơi, rõ ràng cái mặt người bự tổ chảng đen thui ngoài cửa sổ, giương cặp mắt trắng dã dòm trân trân tao! Kìa, mầy tái xanh thấy ghê! Có sao đâu, chuyện ở nhà tao mà! Tao hét um lên, chạy như bay ra ngoài. Bé Hà cũng chạy theo tao. Ai ngờ, chả cũng chạy ra, đụng phải tao, suýt té. Chả ôm hai mẹ con. Vỗ về. Qua cơn sợ hãi, tao hoàn toàn yên tâm khi nằm bên cạnh chả. Bé Hà bám lấy cổ chả. Mầy biết đấy, khi sợ thì hay...

Kìa, mầy để yên tao kể tiếp, chuyện gì cũng phải có đầu có đuôi. Tao ra toa-lét, khi đi ngang qua phòng khách, tao lén xé vụn tờ đơn ly hôn! Đó, hai lần thức giấc của tao đó. À, chưa hết. Chừng mấy phút sau, gió to kinh khủng, cuốn phăng mái tôn ngoài bếp nghe ầm ầm, tưởng như tận thế. Chả ra bếp thu dọn. Tao với bé Hà chui xuống gầm giường ôm nhau run. Xong chả vào lôi mẹ con tao ra, phủi mạng nhện, bồng hai mẹ con lên giường. Hết chuyện!”.

Quỳnh tròn mắt: “Ổng bồng Sơn?”(Sơn cao khoảng hơn mét sáu, nặng độ bảy chục ký, coi gần giống võ sĩ sumo! Có lần chồng bất tỉnh giữa khuya, Sơn cõng chồng chạy một mạch tới bệnh viện! Quỳnh phục sát đất. Sơn nhún vai, xì, chuyện lẻ tẻ, chả thua tao ba tuổi, nhẹ hơn tao cả chục ký!). “Ừ, bồng ngon ơ! Hi hi! Tao chẳng còn sợ gì nữa, khò tới sáng. Thôi kệ, dù sao mình cũng chỉ là cái xương sườn bé nhỏ. Mà nấp trong lòng chả coi bộ khỏe ru à nhen! Cũng may chả đãng trí, quên béng cái đơn ly hôn. Tao cứ lo ngay ngáy sợ chả hỏi, quê cả cục. Mầy ơi, hình như đàn bà mình đôi khi có thể độ lượng với cả thế gian, nhưng lại khe khắt chấp vặt với chồng”.

Hơi ấm, mùi vị quen thuộc, hơi thở xiết bao nồng nàn của Đạt bỗng quấn lấy Quỳnh, nao lòng. Gió yên. Biển lặng. Con thuyền chao nhẹ. Quỳnh duỗi đôi bàn tay. Đôi bàn tay mỏi nhừ.

“Nè, uống đi chứ. À, cái mặt đen thui ngoài cửa sổ hả, tao không biết là gì, có thể bọn trộm bôi mặt bôi mày hù mình. Cũng có thể là ma. Gớm, mầy chưa thấy đã run. Sợ gì, đến giờ phút này mầy vẫn còn Đạt bên cạnh. Đêm nay cứ yên tâm ngủ. Còn ngày mai tính sau. Ơ, hết chai rượu rồi!”.

Kìa, con chim bố! Quỳnh chồm người tới nhìn kỹ bức tranh: Hóa ra con chim bố đứng khuất đằng sau con chim mẹ, đôi cánh hơi xòe ra như sẵn sàng che chắn, miệng ngậm mồi, mắt chan chứa yêu thương. Quỳnh như bị nó cuốn hút, mê hoặc.

“Này, đứng lên coi ai say cho biết. Nếu không lái nổi tao phone cho chả, chả tới ngay. Đạt cũng vậy. Chưa ly dị mà! Dễ gì mấy chả bỏ tụi mình nằm đây. À, rượu ngon không mậy? Hi hi, thực ra chai rượu đó toàn sô đa với cà phê. Bộ mầy tưởng... có mà tao với mầy quay đơ! Thì hồi đầu tao đã thành thực khai báo rồi, rượu chỉ thiệt có năm phần trăm thôi. Mầy dỏm dễ sợ! Ủa, còn chuyện của mầy? Hay tụi mình trở vào quán nói chuyện tiếp!”. Quỳnh cười: “ Thôi về đi! Chuyện Sơn tếu thật đấy... Thì ra...”. “ Ừ, thì ra... vậy đó! Tối mai cũng quán này nghen, sẽ bàn chuyện ly dị của mầy”.

Đường phố đã thưa thớt người. Trời lạnh quá chừng. Quỳnh chợt nhớ đến bàn tay to chắc vững chãi và vùng ngực rộng lớn nóng ấm của Đạt.

Kéo cao cổ áo, Quỳnh rồ ga nhanh hơn. Chú chim non của Quỳnh hẳn đang há to mỏ đợi mẹ?

Thì ra!... Ừ! Thì ra!...

@: nguồn:hợp tuyển THỜI VĂN số 6

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2007

rung ru

rừng rú


lẻ trời

trời sinh mưa nắng hôn nhau

gió hôn ngọn cỏ ao sâu hôn bèo

cớ sao em chẳng làm theo

mình hôn nhau ấy:

- là theo lẻ trời.

em về

bụi cát sau lưng

em về trắng phố mưa qua,

đường xanh sẽ nhạc lên toa tình đầu.

nón nghiêng tay nửa khung màu,

bạc ngà khói cuộn sẽ lau phiếm buồn.

- em về bụt cát sau lưng,

nửa theo hè vắng nửa mừng nhạn xưa.

tạp chí văn học gài gòn. (trước 1975)


Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2007

Cao huy khanh

Cao Bá Quát:

NHỮNG CÂU HỎI VỀ CUỘC ĐỜI MÌNH

- CAO HUY KHANH

Có thể nói thơ Cao Bá Quát đầy những câu hỏi.

Câu hỏi về phương hướng cuộc đời mình rồi sẽ đi về đâu trong một hiện thực tựa như bãi cát dài vô tận , ngút mắt, càng đi như càng bị lún xuống , chân trời càng lùi xa … những bãi cát ông từng thấy ở đất Quảng Trị trong khoảng làm viên quan nhỏ ở Huế : "Bãi cát dài, bãi cát dài, biết tính sao đây? …Anh còn đứng làm chi trên bãi cát ?” hoặc : "” Đi trên con đường dài thăm thẳm … Lần này lại từ biệt để đi đâu nhỉ?” (*). ”Câu hỏi về mối đam mê văn chương của mình có ích gì : " Chuyện văn chương trước đây thực là trò trẻ con , trong thế gian này có ai thực là bậc tài trai lại phí cả một đời cho mấy pho sách cũ?”. Câu hỏi về sự nghiệp của một bậc nam tử muốn giúp đời mà đành bất lực : "Không có một sách lược gì làm cho đời được thái bình , thẹn mình là một nhà Nho mà lại tàm thường đến thế?”, sống mà cũng như kẻ đã chết rồi: "Xuân hết rồi, nào ai gọi hồn người chưa chết?”. Câu hỏi về lẽ xuất xứ, bài học vỡ lòng muôn năm của các nhà Nho: "Việc đã chưa được như ý, lòng cũng khó mà được tự do. Xưa nay những khách ngoài vòng, vừa ẩn vừa xuất cốt để vì ai?” Và thế rồi tất cả đều dẫn đến câu hỏi tối hậu là đời mình bấy lâu nay sống như thế là đúng hay sai bằng cách mượn trường hợp của Nguyễn Công Trứ để đặt nghi vấn: "Có lẽ nào sau mươi chín năm qua đều là sai cả?”.

Những câu hỏi đó thể hiện mối mâu thuẫn muôn dời của những kẻ thất bại trên đường đời khi thực tế cuộc sống không ăn khớp với ước mơ. Với Cao Bá Quát đó là mâu thuẫn giữa giấc mộng công danh và ý tưởng phản kháng chống lại triều đình nhà Nguyễn mới nhen nhúm, mâu thuẫn giữa niềm tin “văn dĩ tải dạo” và khát vọng hành động thực tiễn , mâu thuẫn giữa ý chí vào đời chiến đấu (xuất) và mơ tưởng cầu an, hưởng nhàn (xử). Những mối mâu thuẫn đó khiến nhà thơ không lúc nào không bị dằn vặt, ray rứt: "Cứ trằn trọc với điều suy nghĩ , như say lại như tỉnh”.

Phải đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên: Văn chương hay hành động ? Cả một bản cáo trạng chống văn chương đã được Cao Bá Quát tích lũy , tập hợp lại rồi lần lượt nêu ra hài tội . Nào là " Về già, văn chương không mưu tính được chuyện gì cho mình”; nào là " Mười năm cầm bút phí cả thì giờ”, nào là "Tự cười mình còn vứơng vào thói đời chưa dứt bỏ đi được , cứ giữ mãi cuốn sách quá đỗãi ham mê” … Làm quan hay đi chiến đấu? Câu trả lời : " Là người dũng cảm đâu có chịu chết nơi văn tự!”. Và khẳng định : " Là người trượng phu đã chống gươm đi thì đi thẳng , chẳng bắt chước như đàn bà , con trẻ bịn rịn trong lúc phân kỳ!”. Thay vì những dấùu hỏi, bây giờ là những dấu than(!) quả quyết.

Có thể nói Cao Bá Quát đã tìm ra đáp số cho bài toán phân vân về cuộc đời mình đúng hay sai . Cuộc đời đó – nói đúng hơn là 3/4 cuộc đời đó – nó đã sai , đã lầm rồi : " Đời ta trót lầm lỡ vì cái danh hờ, hàng mười năm chìm đắm trong bút mực “ và “ Ở quán bên sông hàng tuần tin tức gián đọan , nơi chân trời cây đàn thanh kiếm đi đã lầm đường”. Đó là câu trả lời tối hậïu đặt lên định mệnh nhà thơ đầûy phóng túng đưa đến sự chọn lựa cuối cùng như đã biết”.

Trong sự nghiệp thơ văn Cao Bá Quát để lại có một lỗ hổng lớn là loại sáng tác “nổi loạn” tức là những bài thơ, bài văn làm trong khoảng thời gian bắt đầu manh nha ý hướng dứng lên kêu gọi chống lại triều đình cho đến lúc gia nhập đòan quân “Giặc châu chấu” – phỏng đóan kéo dài vài ba năm cuối đời (từ 1852 lúc đi Sơn Tây làm giáo thụ đến khi bị bắn chết tại trận tiền tháng giêng năm 1855). Trong số hơn 1000 bài thơ văn của ông còn tìm lại được hầu như không có bao nhiêu loại văn thơ phản kháng trực diện, điều mà ông đã làm được trên thực tế. Một thiên tài thi phú lớn như ông – sáng tác nhiều và nhanh, đủ thể loại – chăng lẽ lại không quay ngòi bút của mình về cái đề tài lớn cuối cùng đó của đời mình? Lời giải thích dễ hiểu nhất là loại văn thơ đó có nhưng đã bị thất truyền, bị tiêu diệt bởi cái án tru di tam tộc . Nhưng không lẽ tất cả đều bị đốt hết trong lúc sau này chúng ta vẫn sưu tầm lại được đến hơn 1000 bài khác ? Và ngoài phần tác phẩm bi đốt, bị cấm còn sự lưu truyền trong dân gian nữa làm sao xóa trắng hết được ? Lịch sử đã cho thấy những nhân vật lớn luôn luôn đày những giai thoại truyền miệng – như Nguyễn Trãi chẳng hạn. Cao Bá Quát cũng vậy, cuộc đời và con người ông được dân gian tô điểm cho biết bao giai thoại kỳ thú , vậy tại sao loại văn thơ chiến đấùu của ông – nếu có – lại không được dân gian gìn giữ, không đầy đủ thì cũng còn lại chút ít , bất chấp mọi lênh cấm của nhà Nguyễn?

Phải chăng ta có thể nghĩ tới một giả thuyết khác : Cao Bá Quát không làm hoặc làm không bao nhiêu loại văn thơ ấy. Có thể vì ông không có thì giờ, cũng không còn tâm trí nghĩ đến việc này nữa trong cái cảnh dàu sôi lửa bỏng lúc đó với cương vị là Quốc sư của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Hoặc là biết đâu bây giờ ông không muốn, không thèm làm thơ phú gì nữa như câu trả lời mà ông tìm ra nêu trên ? Đã tỉnh ngộ rồi giấc mộng văn chương : " Biết rằng bút mực văn chương không phải là nơi để cho mình chết”.

Một khi đã dấn mình vào bãi chiến trường nơi tên bay đạn lạc , nếu có còn bận tâm đến chuyện văn chương thơ phú, nếu còn nhớ đến việc sáng tác , nếu có viết thì ông chỉ muốn viết một câu duy nhất:

“ Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu Thuấn

Mục Dã, Minh Điền hữu Vũ Thang”

Cao Huy Khanh

(tháng 12/94)

(*)Tất cả đều dịch nghĩa từ các bài thơ chữ Hán.Trích dẫn theo:"Thơ văn Cao Bá Quát (NXB Văn Học 1984).

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2007

TRẦN THỊ CỔ TÍCH

TRẦN THỊ CỔ TÍCH


GIỮA THÀNH PHỐ CHƯA QUEN


Chiều lang thang cùng mưa bay trong nắng

Lòng hỏi thầm còn lại những gì đây?

Đường ta đi, gót mòn thênh thang lắm

Tiếng hát người lồng lộng giữa trời mây

Xin gửi hết thương yêu về cố quận

Phố vẫn hiền trong nỗi nhớ hôm nay

Nhớ hái giùm ta nhành duyên sứ trắng

Hương thân tình còn tỏa ngát trên tay

Ta bây giờ lòng như con đường vắng

Ngẩn ngơ nhìn từng vạt nắng vàng phai

Xuân chưa về nên mai chưa nở trắng

Ta chưa về nên khói thuốc bỗng cay...